Ngôn ngữ qua văn chương - Phương ngữ Trung bộ - Người Đưa Tin

Breaking

Post Top Ad

Thứ Bảy, 21 tháng 12, 2019

Ngôn ngữ qua văn chương - Phương ngữ Trung bộ


Đây là bài thứ 3 và cũng là bài cuối cùng trong loạt bài “Ngôn ngữ qua văn chương” với chủ đề về Phương ngữ Trung bộ. Như ta đã biết, về mặt địa lý, Việt Nam được chia thành 3 miền Bắc, Trung, Nam và về ngôn ngữ, được hình thành 3 phương ngữ tương ứng.

Riêng về miền Trung được xác định ranh giới từ Thanh Hóa xuống đến Thừa Thiên - Huế. Kéo dài suốt một giải đất hẹp này, người ta thấy xuất hiện nhiều phương ngữ phổ biến tại các địa phương mà những người miền Bắc và Nam thường dùng từ ngữ “trọ trẹ”, một lối nói theo kiểu kỳ thị.

Nói như vậy, sự kỳ thị mang tích cách chủ quan và “coi thường” miền Trung mà người ta thường ví von đó là dải đất “khô cằn sỏi đá” với cuộc sống khăn, cơ cực đến độ… “chó ăn đá, gà ăn muối”. Tuy nhiên, phương ngữ Trung bộ có những cái hay của nó mà người ta ít để ý đến một cách tường tận.

Có thể nói, trung tâm của phương ngữ miền Trung là vùng Thừa Thiên-Huế. Một số nhà ngôn ngữ học mệnh danh đó là vùng “mô, tê, răng, rứa” trong khi hai miền Nam-Bắc hiểu là “đâu, kia, sao, vậy”.

Bản đồ phương ngữ Việt Nam
Văn học miền Nam trước 1975 đã có những cây bút nữ xuất thân từ miền Sông Hương – Núi Ngự, trong đó phải kể đến những cây bút đã nổi tiếng một thời là Nhã Ca, Túy Hồng và Nguyễn Thị Hoàng. Xem ra trong 5 “nữ hổ tướng” của nền văn học miền Nam trước đây chỉ còn Nguyễn Thị Thụy Vũ (người gốc miền Nam) và Trùng Dương (gốc Bắc).

Giữa hai nhà văn Nhã Ca và Túy Hồng người ta thấy có nhiều điểm chung. Thứ nhất, cả hai đều sinh trưởng tại Huế và thành công trong văn nghiệp tại Sài Gòn. Thứ nhì, cả hai đều có chồng trong giới văn nghệ: Nhã Ca kết hôn với Trần Dạ Từ, có 5 người con trong khi Túy Hồng lập gia đình với Thanh Nam (mất tại Seattle năm 1985) với 4 người con.

Tuy vậy, giữa họ cũng có một điểm khác biệt lớn: truyện của Nhã Ca dựa vào bối cảnh chiến tranh với ngôn từ “rặc Huế” trong khi Túy Hồng lại dựa vào tính dục của con người với bút pháp mang đậm nét hiện sinh của Jean-Paul Sartre, Francoise Sagan.

Nguyển Thị Hoàng lại là một ngoại lệ. Nhà văn này thành công trong tiểu thuyết tự sự “Vòng tay học trò” khi xa Huế. Trước khi vào Sài Gòn, Nguyễn Thị Hoàng lại là một nhà thơ với những lời thơ “rặc chất Huế”. Chúng tôi sẽ trích một trong những bài thơ này ở phần cuối của bài viết.

Thực ra thì ba “nữ hổ tướng miền Trung” đã chuyển vào Sài Gòn và cũng chính tại đây họ đã bước vào văn đàn. Nổi bật hơn cả là Nhã Ca và nổi tiếng nhất là “Giải khăn sô cho Huế” được viết 2 năm sau biến cố Tết Mậu Thân 1968.

Nhã Ca “Giải khăn sô cho Huế” (tranh của Chóe trên Giai phẩm Văn)
Ngay từ đoạn đầu trong “Giải khăn sô cho Huế” ta đã nghe hàng loạt tiếng súng nổ và mọi người chui xuống gầm giường tránh đạn trong hốt hoảng. Đó là những ngày đầu năm của tết Mậu Thân. Có tiếng của bà mẹ Nhã Ca hốt hoảng:

"Còn đứa mô nữa? Vô hết đi. Vô một chỗ”


“Tôi nghe tiếng rục rịch trong chuồng gà ở đàng sau tấm vách tường lọt vào nhờ hai cánh cửa sổ đã bật tung cùng với tiếng súng đạn hỗn loạn. Thái, tên đứa em họ tôi, đã bình tĩnh ngồi dựa vào tường, và phì phà trên môi điếu thuốc lá lúc nào. Tôi lần tay, nắm chặt tay nó:
- Thái, liệu có yên được không?
- Em làm răng biết được, cái nớ thì chịu...

Tôi lại hỏi anh tôi, lúc đó đã nằm trên giường vì không chịu nổi sự chen lấn dưới đất:
- Anh, sáng mai chắc yên há anh?
- Làm răng biết được, anh cũng chịu.”


- Má sợ chi mà sợ dữ rứa. Chị Vân [Nhã Ca], sáng ra chị với em đi thăm trận đánh nghe. Coi chừng về Sài Gòn viết một phóng sự chiến trường đầu năm đầy gay cấn.
- Giỡn chi mà giỡn vô hậu tế đợi rứa. Mấy chuyện đó đừng có ham.

(hết trích)

Từ Sài Gòn, vợ chồng con cái Nhã Ca chuẩn bị đầu năm về ăn Tết ở Huế thì được tin ông thân sinh hấp hối. Leo lên một chiếc máy bay quân sự chở thực phẩm cho lính ở tiền đồn, gia đình tác giả về tới vừa kịp những giờ cuối cùng của người cha trước khi lâm chung.

Nhã Ca cố nhón gót nhìn lên miệt núi, nơi có ngôi mộ mới chôn của thân phụ nhưng không thấy được gì. Cậu em họ hỏi: “Chị nhìn chi rứa?”. Tác giả chỉ còn biết thở dài buồn bã: “Chắc đêm qua trên núi mồ mả bị chân đạp lung tung, mộ bác mới chôn”.

Một toán lính Mỹ đang đi lùng Việt Cộng. Hai người lính đi ngang qua sân, chĩa súng vào trong nhà. Cả nhà cố giữ vẻ mặt thật thản nhiên, họ dừng lại, rồi đưa mắt cho nhau, đi vào bậc thềm, hất hàm ra hiệu cho tất cả ra ngoài cửa. Một người lính Mỹ nói hai tiếng gì đó không phải tiếng Mỹ.

“Chúng tôi ngơ ngác nhìn nhau, người lính Mỹ lộ vẻ tức giận, nạt lớn:

Kên cượt.

Anh tôi hỏi một câu tiếng Anh, nhưng người Mỹ vẫn la:

- Kên cượt.

Má tôi là người hiểu ra đầu tiên, bà nói lớn:

- Ông Mỹ hỏi thẻ căn cước.

(hết trích)

Lính Mỹ tại Huế, Mậu Thân 1968
Cả gia đình Nhã Ca chạy lên Dòng Chúa Cứu Thế vì nghĩ rằng nơi đây có đông người, an toàn hơn ở nhà. Cũng tại nhà thờ, người đọc có dịp nghe phương ngữ Huế một cách đầy đủ nhất qua đối thoại của những người chạy loạn.

“Nhận ra giọng nói của Thu, cô em họ, tôi vẫn chưa hoàn hồn. Nhưng tôi đã mở miệng được:
- Nói nho nhỏ. Sợ chi vậy?

Thu thì thầm:

- Em nằm bên cạnh cái bà mà khi chiều mình thấy đó. Bà đó ôm cái bọc nhỏ trước ngực. Nằm mà cũng ôm khư khư không rời...
- Thì kệ bà nớ. Có chi mà sợ chớ.
- Em ngửi thấy mùi hôi, hôi lắm.


Tôi nạt nhỏ:

- Nhiều chuyện. Chạy cả ngày, có người sợ đái trong quần. Hôi chớ răng không hôi. Mai mốt em cũng hôi như cú.
- Không phải. Em nằm sát bên cạnh, thấy ghê ghê. Bà cứ khóc rỉ rả như con dế kêu, rồi cứ nói lầm bầm trong miệng như điên, mà cái mùi... nó kỳ kỳ... Em sợ lắm.


(hết trích)

Thì ra mùi hôi phát ra từ cái bọc nhỏ có… xác con bà đã chết từ mấy ngày nay! Người mẹ vẫn ôm xác con trong tiếng ru: “À... ơi! Con ngủ đi con... À ơi... Ru hời ru hỡi là ru... Bên cạn thì chống, bên su [sâu] thì chèo... Ngủ đi con... Con ngoan... con ơi là con!”

“Chị đàn bà bật khóc. Tôi không hiểu tại sao chị ru con mà khóc? Chắc hôm qua nhà chị bị cháy, chồng chị chết rồi, chị bồng đứa con chạy thoát? Thái nằm day mặt về phía chị đàn bà, hỏi:

- Con chị đó há?

Chị đàn bà gật đầu. Gật tới mấy cái liên tiếp.
- Nó mần răng mà chị khóc? Nó đau ốm chi không?


Chị đàn bà ôm chặt cái bọc vải hơn, hơi quay người như sợ người ta giành mất:

- Không răng. Không răng hết.
- Gia đình chị mô hết rồi?
- Chết. Chết hết. Chết. Chết hết, còn mô nữa...”


(hết trích)

“Giải khăn sô cho Huế” dẫn người đọc đến đoạn “bà bầu chuyển dạ” tại nhà thờ. Cha sở kêu gọi người đến giúp người đàn bà đang rên la trong cơn đau đẻ. Người ta khiêng người đàn bà chuyển bụng lên căn gác lửng nơi dành cho ban nhạc trong các buổi lễ hoặc buổi giảng.

Nơi này hoàn toàn trống, nó gần mái nhà và được coi là nơi nguy hiểm nhất, không ai có can đảm lên đó để núp bom đạn. “Lên đó dễ sợ lắm, dễ ăn bom...”, một giọng nói xì xầm của ai đó cất lên không chút xót thương mà gần như lại còn mừng cho mình kiếm được chỗ tốt hơn.

“Trên căn gác lửng, tiếng rên la của người đàn bà bắt đầu thảm thiết hơn, rền rĩ hơn. Con Thu bạo dạn nghểnh đầu nghe ngóng, nó phê một câu:
- Chị ơi, cái bà ni không biết dị chi hết. Ðẻ mà la quá trời...

“Con Thu chưa làm mẹ, nó làm sao hiểu được cảnh người đàn bà qua biển mồ côi một mình. Tôi đã sinh đẻ, tôi biết cơn đau đẻ hành hạ người đàn bà như thế nào, nhưng lúc này tôi cũng không thể chia sẻ gì được cho bà ta. Tôi đã mệt quá, cơn đau đẻ của bà làm cho tôi càng mệt thêm.

“Không khí như từ đâu tràn vào, xông tới và tôi thở phào, nhẹ nhõm khi nghe tiếng con nít khóc oa oa chào đời. Tiếng khóc mạnh mẽ, bất chấp, không biết có đem sự tin tưởng, hy vọng, sức lực tiếp cho ai không, nhưng với tôi thì có. Cám ơn tiếng khóc chào đời trong cảnh khốn cùng tuyệt vọng…

(hết trích)

Bên kia cầu Trường Tiền, lính Việt cộng đang canh giữ. Một người chay giặc qua cầu kể lại:

“Thấy chúng tôi, họ đuổi trở lại nhà. Chúng tôi chạy đại bất kể, họ đưa súng lên nhắm bắn. Rứa là tụi tôi chạy bán sống bán chết. Họ còn bắn đuổi theo dọa làm chúng tôi chạy té xấp té ngửa...


- O ơi là o. Tan nát hết rồi o ơi...
Người đàn bà lớn tuổi mắt rưng rưng, nhưng cố gắng an ủi hàng xóm:
- Khóc chi tào lao rứa. Có người ta có mình chớ. Mấy đứa nhỏ mô mà không thấy?



- Bác ở mô chạy về đây?” Thái hỏi.

- Tui ở trên Phú Cam. Trên đó tụi nó còn đông lắm.
- Rứa răng bác chạy được?
- Liều. Liều cậu ơi. Nhờ Chúa che mắt nên mới thoát được tới đây. Tụi nó đông lắm, chỗ mô cũng thấy tụi nó...
- Bác có nghe tin tức chi không?
- Cũng có nghe sơ sơ. Họ nói tụi giải phóng chiếm hết thành phố Huế rồi. Vài ba bữa nữa ông Hồ vô thăm ăn mừng chiến thắng. Họ nói ông Hồ mà vô đây, bà con được Bác phát gạo ăn không hết...
- Ở đó mà có gạo. Cứt khô cũng không có. Từ bữa qua tới chừ gia đình tui mười một mạng chưa có hột cơm hột cháo mô trong bụng nì... Phách tấu...


(hết trích)

Huế (ngày 14/4/1968), mười tuần sau tổng tấn công Tết Mậu Thân
Nhà văn – Nhà thơ Nguyễn Thị Hoàng theo học trường Đồng Khánh, năm 1957 vào Nha Trang, 1960 vào Sài Gòn học Đại học Văn khoa và Luật; bỏ dở, đi làm, dạy học ở Đà Lạt. Đây cũng là nơi cuốn tiểu thuyết gây chấn động dư luận miền Nam “Vòng tay học trò” được sáng tác trong bối cảnh trường Trần Hưng Đạo, Đà Lạt.

Trước khi trở thành một trong những nhà văn nữ nổi tiếng tại miền Nam, Nguyễn Thị Hoàng còn là một nhà thơ khi còn ở Huế. Trong phạm vi bài viết về phương ngữ Trung bộ, chúng tôi trích lại bài thơ “Chi lạ rứa”. Bài thơ xử dụng những ngôn từ đặc biệt của cố đô Huế:

Chi lạ rứa, chiều ni tui muốn khóc
Nhìn chi tui - đồ cỏ mọn hoa hèn
Ngó chi tui - đồ đom đóm trong đêm
Cho thêm tủi bên ni bờ cô tịch

Tui ao ước có bao giờ tuyệt đích
Tui van xin răng mà cứ làm ngơ
Rồi ngó tui, chi lạ rứa: hững hờ
Ghép yêu mến, vô duyên và trơ trẽn

Tui đã tắt nỗi ngại ngùng bẽn lẽn
Bởi vì răng? Ai biết được người hè!
Nhưng mà chiều đã rủ bóng lê thê
Ni với nớ có khi mô mà gần gũi

Chi lạ rứa! Răng cứ làm tui tủi
Tàn nhẫn chi với một đứa thương đau
Cảm tình câm nên không sắc không màu
Và vạn thuở chẳng nên tình luyến ái

Chi lạ rứa? Người cứ làm tui ngại
Biết sông sâu hay cạn giữa tình đời
Bên ni bờ vẫn trong trắng chơi vơi
Mà bên nớ trầm ngâm mô có kể

Tui không muốn khóc chi những giọt lệ
Đọng làn mi ấp ủ mối tâm tình
Bên ni bờ hoa thắm hết tươi xinh
Mà bên nớ huy hoàng và lộng lẫy

Muốn lên thuyền mặc sóng cuồng xô đẩy
Nhưng thân đau nên chẳng dám đánh liều
Đau chi mô! Có lẽ hận cô liêu...
Mà chi lạ rứa hè? Ai hiểu nổi!

Tui không điên, cũng không hề bối rối
Ngó làm chi cho tủi nhục đau thương
Tui biết tui là hoa dại bên đường
Không màu sắc, chi lạ rứa hè, người hí

Tui cũng muốn có một người tri kỷ
Nhưng đường đời như rứa đó, biết mần răng?
Tui muốn kêu, muốn gọi, muốn thưa rằng
Chờ tui với! A, cười chi lạ rứa?

Tui không buồn, răng mắt mờ lệ ứa!
Bởi vì răng tui có hiểu chi mô
Vì lòng tui là mặt nước sông hồ
Chi lạ rứa, bên ni bờ tui khóc...


Nhà văn – Nhà thơ Nguyễn Thị Hoàng qua nét vẽ của họa sĩ Chóe, Giai phẩm Văn
Có thể nói Nhã Ca, Túy Hồng và Nguyễn Thị Hoàng là những hình ảnh gợi đến phương ngữ Trung bộ một cách đậm nét nhất. Dĩ nhiên là chúng ta còn nhiều các nhà văn thuộc “trường phái Huế” nhưng thiết nghĩ, ba nhà văn nữ này cũng đủ để giới thiệu những nét đặc sắc của văn chương – ngôn ngữ tại vùng đất mà ngày xưa được gọi là đất… Thần Kinh.

Cuộc hành trình ngôn ngữ qua văn chương xin chấm dứt tại đây sau khi đã qua cả 3 vùng Bắc – Trung – Nam.



© Blog Nguyễn Ngọc Chính

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét