Người Đưa Tin
Tin Tức Cập Nhật :

Chuyên gia nói về báo cáo FireEye, hacker Việt


Một nhóm hacker làm việc cho chính phủ Việt Nam sẽ muốn hack những người bất đồng chính kiến, những tổ chức chính trị đối lập, những nhà báo, trí thức, doanh nhân có tên tuổi uy tín, những website, blog “lề trái". Sau khi hack được rồi, đối với cá nhân thì họ âm thầm theo dõi, thu thập thông tin riêng tư, để sau này có thể blackmail hoặc bôi nhọ uy tín, đối với tổ chức thì họ phá hoại, đánh sập website, đóng cửa blog, v.v.

nhiều nước trên thế giới có các đội tin tặc làm cho chính phủ (ảnh minh họa)

Mời xem Video: Tranh dành Quyền lực



Mới đây, hãng an ninh mạng FireEye ở Mỹ đã đưa ra một báo cáo nói nhóm hacker APT32/OceanLotus liên quan đến chính phủ Việt Nam đã đột nhập vào các máy tính của các công ty đa quốc gia hoạt động trong nước. Nhóm này được cho là cũng có liên quan trong các cuộc tấn công mạng nhắm vào các nhà báo và giới hoạt động, bất đồng chính kiến ở Việt Nam. VOA đã phỏng vấn ông Thái Dương, một kỹ sư an toàn thông tin đang sống và làm việc ở Silicon Valley, để tìm hiểu thêm về vấn đề này.

VOA: Làm thế nào FireEye có thể đưa ra nhận định là "các hacker làm việc cho chính phủ Việt Nam hoặc đại diện cho chính phủ", nhưng đồng thời FireEye cũng nói "không thể xác định chính xác danh tính và địa điểm của các hacker"? FireEye sử dụng các biện pháp theo dõi, phân tích gì để nhận định như vậy?

Thái Dương: Quy trách nhiệm (attribution) các vụ tấn công mạng khó và không thể chính xác 100%. Để tăng độ tin cậy, các nhóm nghiên cứu lập hồ sơ của các nhóm hacker rồi theo vết, quan sát từng nhóm trong một thời gian dài. Hồ sơ của một nhóm hacker bao gồm những thông tin như họ muốn hack ai, sau khi hack được rồi thì họ làm gì, phương pháp, công cụ, hạ tầng, thủ thuật, chiêu thức, v.v. mà họ thường sử dụng. Từ những thông tin này các nhóm nghiên cứu có thể xác định được động cơ và từ động cơ có thể đoán được ai đứng ngoài sau.

FireEye nói rằng không thể xác định danh tính và địa điểm các hacker vì những thông tin này thường cần HUMINT, tức là thu thập thông tin tình báo thông qua điệp viên thực địa. FireEye là một công ty tư nhân, họ không phải là CIA, thành ra họ chỉ có thể thu thập SIGINT, thông qua phần mềm chống mã độc mà họ bán cho các công ty và cá nhân. Các phần mềm này sẽ thu thập các mẫu mã độc và các chuyên gia của FireEye sẽ phân tích để xây dựng hồ sơ cho từng nhóm hacker. Ngoài ra họ cũng có thể thu thập thông tin qua các nguồn tình báo mở như Wikileaks, báo cáo của các nhóm nghiên cứu khác, mạng xã hội, v.v.

  Tôi đồng ý với FireEye rằng cách thức tấn công của OceanLotus rất giống với các nhóm hacker làm việc cho chính phủ Việt Nam mà tôi được biết. Tôi nghĩ đây là bằng chứng quan trọng nhất trong báo cáo của FireEye.

Thái Dương, kỹ sư an toàn thông tin
Một nhóm hacker làm việc cho chính phủ Việt Nam sẽ muốn hack những người bất đồng chính kiến, những tổ chức chính trị đối lập, những nhà báo, trí thức, doanh nhân có tên tuổi uy tín, những website, blog “lề trái". Sau khi hack được rồi, đối với cá nhân thì họ âm thầm theo dõi, thu thập thông tin riêng tư, để sau này có thể blackmail hoặc bôi nhọ uy tín, đối với tổ chức thì họ phá hoại, đánh sập website, đóng cửa blog, v.v. Cách thức tấn công của họ cũng đa dạng, nhưng chủ yếu là nhúng virus vào các tệp văn bản tiếng Việt rồi gửi cho mục tiêu thông qua email. Nếu FireEye theo dõi một nhóm hacker trong một thời gian dài và phát hiện hồ sơ của họ trùng với những đặc điểm ở trên thì FireEye có thể đưa ra nhận định nhóm hacker đó làm việc cho chính phủ Việt Nam.

Trong hồ sơ của một nhóm hacker, mục tiêu và cách thức tấn công là hai thông tin đáng tin cậy nhất để đánh giá họ làm việc cho ai. Tôi đồng ý với FireEye rằng cách thức tấn công của OceanLotus rất giống với các nhóm hacker làm việc cho chính phủ Việt Nam mà tôi được biết. Tôi nghĩ đây là bằng chứng quan trọng nhất trong báo cáo của FireEye.

Dẫu vậy báo cáo của FireEye về nhóm OceanLotus cho thấy mục tiêu của nhóm này là một bước tiến so với mục tiêu quen thuộc của các nhóm hacker làm việc cho chính phủ Việt Nam. Từ trước đến nay các nhóm hacker làm việc cho chính phủ Việt Nam thường chỉ tập trung vào các mục tiêu chính trị, nhưng FireEye chỉ ra rằng OceanLotus quan tâm đến các mục tiêu kinh tế. Tôi cũng chưa từng thấy nghiên cứu hay báo cáo nào chỉ ra chính phủ Việt Nam đứng ngoài sau các vụ tấn công mạng vào chính phủ hoặc lợi ích của các nước khác, nhưng FireEye cho rằng OceanLotus đã thực hiện các vụ tấn công nhắm vào Philippines, Trung Quốc và nghị viện một nước phương Tây. Nếu quả thật chính phủ Việt Nam chỉ đạo APT32 xâm nhập các mục tiêu nước ngoài, đây là một bước tiến tích cực. Không thể đảm bảo lợi ích của Việt Nam nếu như chính phủ không tiến hành thu thập thông tin tình báo, do thám, phá hoại ở các quốc gia trong khu vực.

Lưu ý là FireEye cũng có văn phòng và khách hàng ở Việt Nam. Rõ ràng báo cáo của họ sẽ không được chính phủ Việt Nam hoan nghênh và công việc kinh doanh của họ cũng sẽ ít nhiều bị ảnh hưởng. Tôi nghĩ họ cũng đã phải cân nhắc rất kỹ lưỡng thiệt và hại, bằng chứng mà họ có phải rất vững vàng, họ mới dám đưa ra một kết luận “phật lòng” chính phủ Việt Nam. Dẫu vậy, để marketing các công ty như FireEye cũng có xu hướng đưa tin giật gân.

giả mạo người quen để lừa nạn nhân, cài mã độc là thủ đoạn thường thấy của hacker (ảnh minh họa)

VOA: Xin ông phân tích về mặt kỹ thuật các hacker có thể thâm nhập, theo dõi, lấy trộm dữ liệu của các công ty, cá nhân dễ dàng hoặc khó khăn ra sao.

Thái Dương: Không khó để hack một công ty hoặc một cá nhân nào đó. Có rất nhiều cách thức tấn công, nhưng phổ biến nhất vẫn là phishing, thông qua email. Hacker thu thập địa chỉ email, thông tin nhân viên, các mối quan hệ thông qua Facebook , LinkedIn, v.v., rồi gửi email có chứa mã độc. Nạn nhân sẽ bị hack và nhiễm mã độc khi mở email hoặc tệp đính kèm.

  ... phổ biến nhất vẫn là phishing, thông qua email. Hacker thu thập địa chỉ email, thông tin nhân viên, các mối quan hệ thông qua Facebook , LinkedIn, v.v., rồi gửi email có chứa mã độc. Nạn nhân sẽ bị hack và nhiễm mã độc khi mở email hoặc tệp đính kèm ...

Thái Dương, kỹ sư an toàn thông tin
Sau khi hack được rồi, để theo dõi và lấy trộm dữ liệu thì cần phải đầu tư nhiều hơn về công cụ, phương pháp và hạ tầng. Chẳng hạn như làm sao để tuồn dữ liệu ra ngoài mà không bị phát hiện, làm sao để chiếm quyền cao nhất trên hệ thống, làm sao để truy tìm các nguồn dữ liệu quan trọng trong hệ thống của nạn nhân, v.v. Để xây dựng trọn vẹn một bộ công cụ, hạ tầng hỗ trợ, quy trình và nhân lực để tiến hành các cuộc tấn công đòi hỏi phải có sự đầu tư nhất định. Dẫu vậy chi phí cho những đầu tư này chỉ là con số lẻ, nếu so với mua sắm vũ khí thông dụng.

Thực tế các chính phủ không cần phải có những hacker lành nghề mới có thể tiến hành các vụ hack, vì có những công ty chuyên cung cấp dịch vụ này, từ A đến Z. Một trong những công ty như thế là HackingTeam. Vào năm 2015, công ty này bị hack và toàn bộ dữ liệu của họ bị đưa lên Wikileaks. Theo nguồn dữ liệu này, HackingTeam có vài ba khách hàng ở Việt Nam.

VOA: Các hacker làm việc cho chính phủ có những lợi thế gì? Những lợi thế đó làm cho họ đáng sợ hơn các hacker khác ra sao?

Thái Dương: Trong một bài blog gần đây (Có một Biển Đông trên không gian mạng), tôi có viết thế này:

  ...các nhóm hacker làm việc cho chính phủ có rất nhiều lợi thế. Họ không sợ bị bắt, vì đã có chính phủ "bảo kê". Họ có nguồn đầu tư dồi dào và có rất nhiều thời gian. Nhân danh lòng yêu nước và chủ nghĩa quốc gia, họ có thể dễ dàng tìm kiếm và thu hút nhân tài, đặc biệt là ở các quốc gia thiếu tự do nhưng thừa tuyên truyền.

Thái Dương, kỹ sư an toàn thông tin
Trên Internet có nhiều nhóm hacker với các động cơ khác nhau. Có những thanh niên đang tập tễnh vào nghề an ninh mạng muốn tấn công để chứng tỏ kỹ năng, cũng có những tập đoàn tội phạm tấn công để kiếm tiền. Những nhóm này thường quét toàn bộ Internet để tìm mục tiêu, gặp ai hack đó, không cần biết lý do. Không quá khó để ngăn chặn những nhóm hacker như vầy, vì họ chỉ muốn tìm những mục tiêu dễ nhất.

'Một số nhóm hacker lại thường ra tay để thể hiện lòng yêu nước hay để gửi đi một thông điệp chính trị (hacktivism). Nếu ở Phương Tây có nhóm Anonymous thì ở Trung Quốc có nhóm 1937CN, vừa qua đã phá hoại hệ thống mạng máy tính ở sân bay Tân Sơn Nhất, sân bay Nội Bài và Vietnam Airlines. Mục đích của những nhóm hacker này là tạo tiếng vang, nên họ thường chọn mục tiêu theo dòng sự kiện. Do thiếu một chiến lược lâu dài cùng với sự tổ chức quy củ bài bản, các nhóm hacktivism thường chỉ có tác động ngắn hạn, nổi lên một vài năm rồi sẽ tan rã, một phần trong số đó sẽ gia nhập vào các nhóm hacker được bảo trợ bởi chính phủ và thuộc biên chế quân đội các nước. Đây chính là những nhóm hacker đáng lo ngại nhất. Với nguồn tài chính dồi dào, nguồn nhân lực chất lượng cao, những “tiểu đội” hacker này có nhiệm vụ xâm nhập vào hệ thống mạng máy tính của các cơ quan nhà nước ở các quốc gia khác để do thám (espionage) và phá hoại (sabotage). Là cánh tay nối dài của những cơ quan tình báo, những nhóm hacker này có tầm nhìn dài hạn, có chiến lược được tính bằng thập kỷ, rất kiên nhẫn, không dễ gì bỏ cuộc'.

Tóm lại các nhóm hacker làm việc cho chính phủ có rất nhiều lợi thế. Họ không sợ bị bắt, vì đã có chính phủ "bảo kê". Họ có nguồn đầu tư dồi dào và có rất nhiều thời gian. Nhân danh lòng yêu nước và chủ nghĩa quốc gia, họ có thể dễ dàng tìm kiếm và thu hút nhân tài, đặc biệt là ở các quốc gia thiếu tự do nhưng thừa tuyên truyền.

các hacker làm việc cho chính phủ đáng sợ hơn các hacker khác (ảnh minh họa)

VOA: Ông đánh giá thế nào về "danh tiếng" hay "đẳng cấp" của hacker do chính phủ VN hậu thuẫn so với các nước "khét tiếng" khác?

  Nhìn chung giới hacker Việt Nam, được chính phủ hỗ trợ hay không, vẫn chưa bì được so với các nước như Mỹ, Trung Quốc hay Nga ... Sự thua sút của Việt Nam thể hiện rõ hơn ở khâu phòng vệ.

Thái Dương, kỹ sư an toàn thông tin
Thái Dương: Nhìn chung giới hacker Việt Nam, được chính phủ hỗ trợ hay không, vẫn chưa bì được so với các nước như Mỹ, Trung Quốc hay Nga. Nhưng như đã nói ở trên, xâm nhập không đòi hỏi trình độ cao và nếu không tự làm được thì có thể mua.

Sự thua sút của Việt Nam thể hiện rõ hơn ở khâu phòng vệ. Muốn hack đương nhiên phải cần hacker, nhưng muốn không bị hack cũng cần hacker. Chỉ có hacker mới có thể chống lại hacker, không thể mua giải pháp hay sản phẩm có sẵn. Có nhiều bằng chứng cho thấy hệ thống mạng máy tính của chính phủ Việt Nam đã bị hacker "nước lạ" xâm nhập từ nhiều năm nay. Sự thua sút về nhân lực còn sẽ khiến Việt Nam thiệt hại rất nhiều trên mặt trận không gian mạng.

VOA: Xin cảm ơn ông!

Mời xem Video: [Nóng] Bất ngờ người dân xuống đường biểu tình trước tư gia Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tại Hà Nội




VOA

Sao Đảng bỗng dưng ‘không sợ đối thoại’?


Võ Văn Thưởng (thứ nhì, từ trái): "Chúng ta không sợ đối thoại, không sợ tranh luận..."

Mời xem Video: Tin Tức Thời Sự



Đối thoại chỉ thực sự đạt được kết quả dân sinh - dân chủ - dân quyền khi đảng bị ép vào chân tường - một “vách đá tài chính” về ngân sách, suy thoái dẫn đến khủng hoảng kinh tế, phản kháng và hỗn loạn xã hội, nội bộ chính trị phân rã cùng trào lưu “tách đảng”, tất cả cùng cộng hưởng.


3 kế hoạch “đối thoại”


Dù nửa đầu năm 2017 vẫn chưa qua, nhưng đã có đến 3 sự kiện “đối thoại” khiến lùm xùm dư luận.

Cuộc “đối thoại” đầu tiên thuộc về chức trách của Hội Nhà văn Việt Nam với kế hoạch “Hội nghị hòa hợp dân tộc về văn học” và “sẽ mời tất cả các nhà văn hải ngoại về nước tham dự”, dự định tổ chức vào tháng 4/2017, nhưng cho tới giờ hoàn toàn bặt vô âm tín. Nghe nói tuyệt đại đa số nhà văn hải ngoại đã cự tuyệt lời mời bị xem là quá sức mị dân từ hội đoàn bị xem là “cánh tay nối dài của đảng”.

Sự kiện đối thoại thứ hai đã diễn ra đúng nghĩa, dù là “nước đến chân mới nhảy”. Tại một địa danh lần đầu tiên xuất hiện trên bản đồ chính trị thế giới: Đồng Tâm. Lần đầu tiên, một nhân vật đại diện cho thói kiêu ngạo cộng sản của đảng cầm quyền là Chủ tịch Hà Nội Nguyễn Đức Chung phải viết cam kết nhượng bộ trước đám đông nông dân chỉ chực chờ “nổi loạn”.

Và đến ý tưởng “đối thoại” chỉ mới nảy sinh vào tháng 5/2017: hội nghị trực tuyến toàn quốc sơ kết một năm triển khai thực hiện Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” vào sáng 18/5/2017 đã bớt hẳn khí sắc nhàm chán khi Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Võ Văn Thưởng đột nhiên nhấn mạnh: “Chúng ta không sợ đối thoại, không sợ tranh luận, bởi vì sự phát triển của mỗi lý luận và của học thuyết cách mạng nào rồi cũng phải dựa trên sự cọ xát và tranh luận. Và cũng chính sự tranh luận đó tạo ra cơ sở để hình thành chân lý”.

Dấu hiệu đáng chú ý là vào năm nay, có vẻ sự việc trở nên “quyết liệt” và gấp gáp hơn. Nếu năm ngoái Võ Văn Thưởng chỉ hé ra ý định “đối thoại” mà không kèm theo kế hoạch nào và cũng chẳng làm gì sau đó, thì lần này ông Thưởng đã nhích thêm một chút (mới chỉ một chút) khi thông tin cho báo giới nhà nước: “Ban Tuyên giáo Trung ương đang chờ Ban Bí thư thông qua một văn bản hướng dẫn về việc tổ chức trao đổi và đối thoại với những cá nhân có ý kiến và quan điểm khác với đường lối, chủ trương, quan điểm của Đảng và pháp luật của Nhà nước”.

Sau động thái trên của Võ Văn Thưởng, một số ý kiến trong giới phản biện tỏ ra hào hứng và vồn vã đón nhận “chủ trương đối thoại của đảng”. Một số khác trong đấu tranh dân chủ nhân quyền trong nước cho rằng kỳ này đảng có vẻ nghiêm túc hơn trong việc đối thoại, mặc dù vẫn chỉ dùng lối đảo từ theo cách ám chỉ “người khác biệt quan điểm” chứ chưa dám gọi thẳng tên “người bất đồng chính kiến”.

Nhưng tại sao từ nhiều năm qua, đã có không ít lời kêu gọi đối thoại từ giới trí thức phản biện độc lập mà đảng vẫn không chịu có “chủ trương”? Thậm chí ngay cả lời kêu gọi này xuất phát từ nhóm trí thức “phản biện trung thành” cũng không khiến đảng mảy may động lòng?


Vì sao đảng bỗng nhiên muốn “đối thoại”?


Có khá nhiều bằng chứng về thế chủ động đề nghị đối thoại đã từng thuộc về giới phản biện và bất đồng chứ không phải chính quyền.

Từ năm 2015 đến nay, “Nhóm 61” - một tập hợp mới của một số trí thức đảng viên và những người thuộc phong trào học sinh và sinh viên ở Sài Gòn trước năm 1975 - đã vài lần gửi thư yêu cầu cho Bộ Chính Trị về nhu cầu đối thoại và đề nghị “ít nhất một cuộc gặp để góp ý”. Nhưng từ Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng trở xuống, tất cả nín bặt, không một lời hồi âm.

Còn trước đó, vào năm 2014 khi nổ ra vụ hạ đặt giàn khoan HD 981 của Trung Quốc ở Biển Đông, nhiều trí thức đã yêu cầu Bộ Chính Trị phải đối thoại để xử lý dứt khoát vấn đề đối sách với Bắc Kinh. Nhưng Bộ Chính Trị đã như thể cấm khẩu.

Vào giữa năm 2016, khi cuộc biểu tình bảo vệ môi trường bùng nổ ở miền Trung và kéo theo các cuộc biểu tình liên tiếp của người dân ở hai đầu cầu Hà Nội và Sài Gòn, Ủy viên bộ chính trị Võ Văn Thưởng bất chợt tung ra một phát ngôn hàm ý về “đối thoại với dân” như một động tác xoa dịu không khí phẫn nộ trong dân chúng. Nhưng sau đó ông Thưởng đã “biệt tích” trước cảnh công an Việt Nam lộ nguyên hình hài, hùng hổ bắt bớ và đánh hội đồng không thương tiếc hàng trăm người biểu tình.

Có thể giải thích thế nào về cái cách thập thò rất thiếu chính danh như thế của “đảng ta”?

Trên phương diện tâm lý, sĩ diện của đảng là cao vời vợi, dù sắp chết đến nơi vẫn còn vời vợi cao. Tâm lý đầu tiên và luôn có là “ta đường đường là ủy viên Bộ Chính Trị, sao phải hạ mình ngồi ngang hàng và nói chuyện với mấy tay trí thức chỉ là đảng viên thường?”

Còn nếu có diễn ra một cuộc đối thoại trong mơ, cái gì sẽ được nói ra? Chẳng lẽ giới lãnh đạo đầy sĩ diện và ảo tưởng quyền lực lại chịu ngồi im để nghe “đám trí thức nhiều chuyện” răn dạy sự cần kíp phải bỏ ngay Điều 4 Hiến Pháp, chấm dứt ngay sự độc tôn lãnh đạo của đảng cầm quyền, thoát Trung và cả thoát Cộng, chống tham nhũng từ ngay trong nhà mình… Toàn những chuyện quá khó nghe và quá khó nuốt! Toàn những chuyện “bỏ đảng là tự sát!”.

Kết quả là cho đến tận giờ này, khi quá nhiều dư luận sôi sục về hiện tình “đảng nát như tương” và “đất nước nát như cám”, vẫn không có nổi một cuộc đối thoại cho ra hồn giữa một đảng vẫn tuyên xưng là chính danh với những người chẳng cần danh chính nhưng nghiễm nhiên ngôn thuận.

Không ít người trong giới phản biện nói thẳng rằng đừng hy vọng gì về “bản lĩnh đối thoại” của giới lãnh đạo ngày nay. Họ còn đang phải dành đến 99% thời gian và tâm trí để lo đối phó triệt hạ nhau trong nội bộ, lấy đâu ra hơi sức để ngồi nói chuyện với mấy ông trí thức. Mà cứ nghe đến trí thức là họ lại lắc đầu quầy quậy.

Rất có thể chỉ sau vụ Đồng Tâm tháng 4/2017, khi Chủ tịch Hà Nội Nguyễn Đức Chung phải “hạ mình” đến tận thôn Hoành để đối thoại với bà con nông dân quyết tử giữ đất, Bộ Chính trị đảng mới nhận ra là một khi đảng và chính quyền không có được tiếng nói “nhất trí” trong việc đàn áp người dân Đồng Tâm, mà ngay cả có chủ trương dùng bạo lực đàn áp thì chẳng có gì chắc chắn là lực lượng vũ trang sẽ dám ra tay, còn Đồng Tâm sẽ không biến thành một Thái Bình thứ hai để trở thành một cuộc khởi nghĩa bùng nổ dữ dội toàn miền Bắc…, mới dẫn đến phát ngôn “không sợ đối thoại” của Trưởng ban tuyên giáo trung ương Võ Văn Thưởng…


Đảng muốn gì?


Cũng như giấc mơ cộng sản chủ nghĩa trầy trật quăng quật trong những người bảo thủ nhất của đảng, cuộc gặp giữa số người này với những trí thức chẳng còn mơ màng vào chủ nghĩa xã hội vẫn là một tiến trình vô cùng chậm chạp và xen kẽ không hiếm cơn mộng du.

Trong hiện tình khốn quẫn ở Việt Nam, đối thoại chỉ manh nha thành hình ở những nơi và vào những thời điểm cực chẳng đã đối với chính quyền, ở nhũng cấp địa phương có điểm nóng như Đồng Tâm mà đảng không thể không hạ mình, chứ không phải cấp trung ương. Đối thoại với nông dân, ngư dân, tiểu thương vì bị tước đoạt kế sinh nhai cuối cùng - những người bị coi là sắp “làm loạn”, chứ không phải với những trí thức được chính quyền đánh giá là “chưa nguy hiểm lắm.”

Nhưng vụ Đồng Tâm chỉ là một mồi lửa. Còn nhiều mồi lửa khác trong dân chúng. Trong giới trí thức…

Chỉ đến lúc này, sau khi đã họp mãi và nghĩ mãi nhưng không còn cách nào khác, đảng đành lê tấm thân tàn tạ đến “những người khác biệt về quan điểm”.

Nhưng lúc này mới là bắt đầu, chỉ mới bắt đầu thôi, cho cơ chế “đối thoại”.

Còn bắt đầu từ đâu và tiếp tới như thế nào? Những câu hỏi nát óc.

Bắt đầu từ đâu để giới đối lập không có lý cớ nào cho rằng “đảng ta” sợ đối thoại?

Nhằm những mục đích và kết quả gì cho “đối thoại”?

Thuyết phục, vận động và lôi kéo như mục tiêu truyền thống chăng? Nhưng mục tiêu này liệu có đạt được khi trí thức ngày càng tan vỡ niềm tin với đảng và nguy hiểm hơn cả là ngày càng bất trị và ít sợ hãi hơn, cho dù đảng vẫn dùng công an để răn đe bắt bớ thường xuyên?

Nhiều năm qua, rõ ràng phương pháp “đối thoại trong đồn công an” bằng đủ thứ sách nhiễu, theo dõi, canh nhà, triệu tập, đánh đập và dùi cui đe nẹt của giới “công an nhân dân làm công tác dân vận” đã quá ít tác dụng, phản cảm và còn bị công luận trong và nước cùng quốc tế lên án là phản động.

Hay đảng cần chuyển qua thái độ “lắng nghe” và “chia sẻ”?

Một kiểu cách như “đảng sẽ tiếp thu ý kiến trí thức” có vẻ sẽ tạm ổn trong hoàn cảnh nước sôi lửa cháy này, ít nhất cũng đạt được mục đích mị dân. Đối với dân Việt vẫn thường bị ma mị. Nhất là với những vị trí thức mà chỉ mới nghe một chút hơi hướng “đảng mở rộng dân chủ”, chưa biết thực hư thế nào đã vội rối rít, cuống quýt “xin được đối thoại”.

Nếu chỉ nhằm mục đích xoa dịu tạm thời, không có gì cao tay hơn là đảng cứ tổ chức vài cuộc đối thoại với những trí thức hoặc nhóm trí thức được đảng xếp vào danh sách “phản biện trung thành”. Mọi việc về cơ bản sẽ diễn ra với tính chất “ngoan hiền dễ bảo” như khi đảng nói chuyện hay chỉ đạo các hội đoàn nhà nước. Sẽ chỉ ghi nhận những ý kiến góp ý về điều chỉnh chính sách, còn ý kiến nào phản bác về thể chế chính trị như điều 4 Hiến pháp thì coi như “không nghe, không biết”…

Kết thúc những cuộc đối thoại trên, đảng sẽ cho báo chí nhà nước và đám dư luận viên “tuyên truyền sâu rộng” về chủ trương và kết quả thực hiện đối thoại của đảng. Trí thức sẽ sớm thỏa mãn, theo đúng đặc tính “dễ dao động” của họ. Và biết đâu đấy, những trí thức “phản biện trung thành” lại loan truyền bài học kinh nghiệm về “thành tâm của đảng” cho đám trí thức phản biện độc lập và cả cho các tổ chức xã hội dân sự độc lập. Từ đó mới thấy đảng mở rộng vòng tay yêu thương đến thế nào, để kẻ nào còn dám nói là đảng sợ đối thoại?

Hay sâu kín hơn, lại có những nhân vật, thế lực nào đó trong đảng muốn vận dụng cơ chế đối thoại để lợi dụng một ít nhân vật bất đồng và tổ chức xã hội dân sự làm cầu nối với giới chính khách phương Tây và lấy lòng người Việt hải ngoại, tích cực thu xếp cho “hậu sự”…

Nhưng dù gì, những mục tiêu và cách thức trên mới chỉ là não trạng của đảng - một não trạng vốn rất chủ quan duy ý chí và thường sai lệch rất nhiều so với thực tiễn.


Giới bất đồng nên làm gì?


Cuộc khủng hoảng Đồng Tâm đã trở thành một bài học rất có ý nghĩa dành cho giới trí thức phản biện và giới bất đồng chính kiến: chính quyền chỉ buộc phải ngồi vào bàn đối thoại, mà thực chất là đàm phán các điều kiện dân chủ và nhân quyền với dân chúng, khi các “công bộc của dân” đã hoàn toàn bế tắc về phương pháp luận lẫn phương pháp áp chế dân.

Bởi thế, những trí thức và người đấu tranh nhân quyền muốn có được kết quả đối thoại thật sự có ý nghĩa với đảng, cần chọn đúng thời điểm và bối cảnh bế tắc của đảng. Sớm quá sẽ bị giảm hoặc mất tác dụng. Thậm chí còn bị thói kiêu ngạo của đảng nhìn từ trên xuống và chỉ dừng ở đó.

Sau vụ Đồng Tâm mang tính cục bộ, hiện thời đảng mới chỉ nguy ngập chứ chưa bế tắc toàn diện. Đây là lúc mà giới bất đồng chính kiến không cần vội vã, sốt ruột, cuống quýt, càng không cần “cầu xin đối thoại”… Những cuộc gặp gỡ vào thời gian này, tuy vẫn nên xúc tiến, nhưng chỉ có ý nghĩa “hiểu nhau hơn” mà chưa thể giải quyết những nan giải căn cơ của đất nước và bản chất chế độ.

Mời xem Video: Cuộc chiến tay ba Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Xuân Phúc và Trần Đại Quang: ai là người thắng cuộc?




Đối thoại chỉ thực sự đạt được kết quả dân sinh - dân chủ - dân quyền khi đảng bị ép vào chân tường - một “vách đá tài chính” về ngân sách, suy thoái dẫn đến khủng hoảng kinh tế, phản kháng và hỗn loạn xã hội, nội bộ chính trị phân rã cùng trào lưu “tách đảng”, tất cả cùng cộng hưởng. Bối cảnh chính trị - xã hội càng tiệm cận điểm cộng hưởng này, đảng mà đặc biệt là những bộ phận “muốn thay đổi” hoặc muốn tìm lối thoát trong đảng sẽ càng cần đến đối thoại, càng biến diễn “thành tâm” hơn trong đối thoại, từ đó mới có thể từng bước mở ra dân chủ, nhân quyền và thay đổi bản chất chế độ.

Nếu đã chịu đựng được vài ba chục năm, chẳng lẽ giới bất đồng chính kiến và đấu tranh nhân quyền không thể kiên nhẫn thêm một vài năm nữa?

Phạm Chí Dũng
Blog VOA

‘Không sợ đối thoại, không sợ tranh luận,’ thật không?


Nhà của nguyên tổng bí thư đảng cộng sản Việt Nam Lê Khả Phiêu. Hình minh họa.

Mời xem Video: Tranh dành Quyền lực



Trong cuộc họp sơ kết của ngành Tuyên giáo – báo chí ngày 18/5 vừa qua, ông Trưởng Ban Tuyên giáo TƯ Đảng Võ Văn Thưởng đăng đàn nói mạnh rằng: ‘’Chúng ta không sợ đối thoại, không sợ tranh luận, cọ sát ý kíến khác nhau để tìm ra chân lý.’’ Ông còn cho biết sắp có một chỉ thị của Ban Bí thư TƯ hướng dẫn việc đối thọai và tranh luận trong đảng và trong xã hội.

Đây là chuyện lạ, rất bất ngờ.

Tôi phải bấm mạnh vào đùi để xem mình đang tỉnh hay mê sau khi đọc tin này.

Vì có một sự thật rõ ràng là xưa nay Đảng Cộng sản rất ngại, rất sợ việc tranh luận, việc đối thoại, việc cọ sát ý kiến một cách trung thực để tìm ra chân lý.

Cái khả năng lắng nghe ý kiến người khác là gần bằng con số ‘’không.’’ Chính đây là căn bệnh kinh niên, trầm kha, chết người của Đảng Cộng Sản, con đường tử lộ của đảng, kéo theo thảm họa của nhân dân.

Có trăm nghìn sự thật nói lên căn bệnh bịt chặt 2 lỗ tai của người lãnh đạo Cộng Sản. Trước các Đại Hội X, XI, XII, có biết bao ý kiến, kiến nghị của hàng trăm trí thức, đảng viên góp ý vào các văn kiện dự thảo, nhưng đảng không thèm trả lời lấy một câu. Đó là những trí tuệ và tâm huyết mong muốn đối thọai xây dựng, nhưng đảng đã lạnh lùng không thèm đếm xỉa. Đó là thái độ kẻ cả, tự mãn, trịch thượng, vô văn hóa. Thành ra như nói chuyện với người điếc!

Ngay cả 5 bức tâm thư của ĐạiTướng Võ Nguyên Giáp về ‘’Vụ án siêu nghiêm trọng Tổng Cục II‘’ và về ‘’Khai thác bô-xit trên vùng Tây nguyên’’, gửi Bộ Chính Trị và Ban Chấp hành TƯ, cũng không có đến một câu trả lời .

Thế là không sợ tranh luận, không sợ đối thọai ư?

Gần đây Vụ án Đinh La Thăng, bao nhiêu câu hỏi dồn dập. Vụ án đã kết thúc hẳn chưa? Sao bị kết tội nặng thế mà vẫn còn là ủy viên TƯ Đảng, là Phó Ban Kinh Tế TƯ, còn là đảng viên? Còn là Đại biểu Quốc hội. Đã thật công minh, đúng người đúng tội chưa? Tài sản tham nhũng, thất thoát được thu hồi ra sao, bao nhiêu? Còn bao nhiêu người liên can trong vụ án này? Sẽ xử ra sao?

Vẫn không một ai trả lời.

Nay ông Trưởng Ban Tuyên Giáo lại tuyên bố xanh rờn, không chút ngượng ngùng, là ‘’đảng không sợ đối thọai, không sợ tranh luận’’, nếu quả thật là thế thì đây là cả một cuộc cách mạng, đoạn tuyệt với quá khứ, mở ra một thời kỳ hoàn toàn mới, may mắn, tốt đẹp cho bản thân Đảng Cộng Sản, cho toàn xã hội.

Nhân đây xin mạnh dạn gợi ý với ông Trưởng Ban Tuyên Giáo hãy sớm tổ chức một vài cuộc Hội thảo, đối thoại, tranh luận thật sôi nổi, có kết luận rõ ràng về một số vấn đề quan trọng, nóng hổi sau đây:

Về Cương Lĩnh Chính Trị của Đảng Cộng Sản. Học thuyết Mác – Lenin có còn sức sống hay không ? Chế độ độc đảng có thể là một chế độ dân chủ thật sự hay không? Chủ nghĩa Xã Hội là sự thật hay là ảo vọng?

Phương châm ‘’Đất đai, ruộng đất là thuộc quyền sở hữu của toàn dân, do Nhà nước thay mặt thống nhất quản lý’’ có nên duy trì hay không? hay nên trở lại phương châm ‘’Người cày có ruộng‘’ với các hình thức sở hữu tư nhân (là phổ biến), tập thể và công hữu, như trước năm 1960? Đâu là đúng, sai?

Có nên giữ chính sách ‘’các cơ sở quốc doanh có vai trò chủ đạo trong nền kinh tế‘’ hay không? vì theo đó các Tập đoàn quốc doanh được ưu đãi, nuông chiều quá đáng, làm ăn lỗ lớn hàng trăm nghìn tỷ đồng, lấn át, bóp chết các doanh nghiệp tư nhân vừa và nhỏ của giai cấp trung lưu đông đảo, là bệ đỡ rộng lớn làm nền cho phồn vinh kinh tế và cải thiện đời sống cho toàn xã hội?

Có nên cho phép Quân Đội và Công An làm kinh tế hay không? Có biết Trung Cộng đã cấm tuyệt đối chuyện này từ 12 năm nay, vì Quân đội làm kinh tế sẽ lao vào kiếm lợi nhuận, tay cầm súng sẽ lỏng lẻo, dễ tạo nên tham nhũng hưởng lạc, hư hỏng, đi trệch khỏi chức năng cơ bản là bảo vệ Tổ Quốc, bảo vệ nhân dân. Việc Tổng công ty Bưu Chính Quân đội Viettel cướp đất trong vụ Đồng Tâm là một điển hình sống, chưa nói đến mâu thuẫn gay gắt giữa Viettel với Tổng Cục Bưu Điện và ngành Viễn thông của Nhà nước.

Hãy tổ chức đối thoại tranh luận về 4 vấn đề lớn, nóng hổi trên đây, chưa nói đến các vấn đề hệ trọng khác, như: nên lựa chọn đường lối đối ngọai nào để có bạn tốt, đáng tin cậy; nên cải cách nền giáo dục ra sao? có nên làm như Bình Thuận xây dựng tượng cha con ông Hồ Chí Minh tốn đến 118 tỷ đồng?

Đảng Cộng Sản, Bộ Chính Trị và ngành Tuyên Huấn Trung ương chủ trương tổ chức tiến hành đối thoại thật sự là chuyện rất đáng hoan nghênh, một cuộc đổi mới gương mẫu rất có lợi cho đất nước, cho nhân dân.

Mở đầu, để tạo nên đà thuận lợi, hãy triệu tập những trí thức của đảng thường có chính kiến xây dựng, mạnh bạo, như các vị: Trần Phương, Nguyễn Văn An, Vũ Khoan, Lê Đăng Doanh, Phạm Chi Lan, Đặng Hồng Võ, Bùi Quang Vinh, Trương Đình Tuyển, Trần Quốc Thuận, Hoàng Xuân Phú, Vũ Ngọc Hoàng, Nguyên Ngọc, Phan Huy Lê, Nguyễn Huệ Chi, Trần Quốc Thước, Lê Mã Lương … Đây là một phần ‘túi khôn’ truyền thống của dân tộc.

Xây dựng thật sự và thật lòng một ‘’nền văn hóa đối thoại‘’ trong Đảng và trong xã hội là một bước tiến vượt bực trong tư duy và trong tác phong lãnh đạo của Đảng, sẽ làm lợi vô hạn cho đất nước và cho nhân dân, sẽ là một bước tiến dài để Đảng Cộng Sản thoát khỏi đà suy thoái nguy hiểm và khôi phục niềm tin của nhân dân, niềm tin mà mới đây Giáo sư - Đảng Viên Đào Công Tiến đã báo động là ‘’đã cạn kiệt’’ do Đảng đã buộc nhân dân phải trả giá quá cao cho những sai lầm của mình suốt 70 năm qua.

Mời xem Video: [Nóng] Bất ngờ người dân xuống đường biểu tình trước tư gia Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tại Hà Nội




Trong những sai lầm ấy, có sai lầm sợ đối thoại, sợ tranh luận, không chịu nghe ý kiến phản biện, xây dựng, tự thỏa mãn… đã thành cố tật của các nhà lãnh đạo Cộng sản nước ta. Có gì đáng mừng hơn là sự tự nguyện rũ bỏ cố tật ấy.

Bùi Tín
Blog VOA

Điều trần tại Hạ viện Mỹ về Nguyễn Hữu Tấn, chết trong đồn công an


Chị Nguyễn Thị Mỹ Phượng (trái) và em trai Nguyễn Hữu Tấn quá cố (Ảnh: Vietnam Advocacy Day Facebook và Báo Vĩnh Long)

Mời xem Video: Tin Tức Thời Sự



Ngay trước khi Thủ Tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc sang Hoa Kỳ gặp Tổng Thống Donald Trump vào cuối tháng này, Quốc Hội Hoa Kỳ sẽ mở một buổi điều trần vào ngày 25/5, về tình trạng vi phạm tự do tôn giáo, nhân quyền đang diễn ra ở Việt Nam.

Dân Biểu Christopher Smith thuộc đảng Cộng Hoà, đại diện bang New Jersey, cho biết lý do điều trần trong một thông cáo: “Chính quyền cộng sản Việt Nam giới hạn tự do tôn giáo một cách nghiêm trọng, và Uỷ ban Tự Do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ (USCIRF), vừa khuyến nghị Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đưa Việt nam trở lại danh sách Quốc gia phải Quan tâm Đặc biệt –CPC.”

Dân biểu Smith nói: “Khi Thủ Tướng Việt Nam sang thăm Hoa Kỳ cuối tháng này, chính quyền Tổng thống Trump sẽ có một cơ hội để khẳng định: người dân Hoa Kỳ sẽ không tài trợ việc đàn áp nghiêm trọng các nhóm tôn giáo, các nhà tranh đấu dân chủ, các blogger và các nhà báo.”

Tổng Giám đốc kiêm Chủ tịch BPSOS Nguyễn Đình Thắng cho biết chị Nguyễn Thị Mỹ Phượng, chị ruột của anh Nguyễn Hữu Tấn, một tín hữu Hòa Hảo chết trong khi bị tạm giam ở Vĩnh Long, sẽ từ thành phố Atlanta, bang Georgia, tới Washington dự buổi điều trần này.

Chị Mỹ Phượng, định cư tại Hoa Kỳ từ năm 1999, cho VOA biết chị và chồng sẽ có mặt ở thủ đô Washington vào ngày 25/5 để dự buổi điều trần do các dân biểu Hạ viện Hoa Kỳ tổ chức.

  Em rất lo lắng cho gia đình, vì đang sống trong sự đe đọa: một người anh và một người em hiện đang gặp tình trạng rất nguy hiểm.

Chị Nguyễn Thị Mỹ Phượng
Chị Phượng cho biết sẽ cố gắng đòi công lý cho người em đã chết oan tại đồn công an tỉnh Vĩnh Long hôm 3/5:

“Em rất lo lắng cho gia đình, vì đang sống trong sự đe đọa: một người anh và một người em hiện đang gặp tình trạng rất nguy hiểm, gia đình, ba mẹ của em rất là sợ, ủy quyền cho em để đòi công lý cho đứa em chết oan. Gia đình của em rất sợ hãi, không dám lên tiếng gì hết.”

Gia đình của ông Nguyễn Hữu Tấn ở tỉnh Vĩnh Long - Ảnh Facebook Vietnam Advocacy Day

Chị Mỹ Phượng nói trong những tuần qua gia đình ở Vĩnh Long đã bị công an áp lực và đe doạ nặng nề như tịch thu tất cả các máy điện thoại “có thể lưu trữ chứng cớ đi ngược với lời giải thích của công an về cái chết của Nguyễn Hữu Tấn.”

Theo chị Phượng, chính quyền còn đe doạ sẽ bắt giam anh trai và em trai của anh Tấn.

Trước đó, anh Nguyễn Hữu Tài, em trai của anh Tấn nói với VOA-Việt ngữ rằng gia đình không tin anh Nguyễn Hữu Tấn, người bị tạm giam theo điều 88 Bộ Luật Hình sự Việt Nam, chết do tự cắt vào cổ.

Anh Trần Thanh Hùng, chồng của chị Phượng, nói với VOA-Việt ngữ rằng công an tỉnh Vĩnh Long đã chiếu cho gia đình xem hai đoạn video khác nhau, theo đó công an cho rằng người cầm dao tự sát là anh Nguyễn Hữu Tấn.

Anh Hùng nói rõ sự khác biệt giữa video chiếu ngày 3/5 với video chiếu ngày 6/5 như sau:

“Lần đầu tiên mà ông già đến đồn công an và công an cho xem video, thì con dao cầm bên tay trái, hai tay không có bị còng, nhưng lại mặc đồ tù, chỉ thấy ngang vai, phớt qua thôi, cầm dao rạch hai, ba cái, rồi té xuống. Còn video họ đem ra chiếu lần thứ hai thì lại khác video lần thứ nhất mà ông già thấy. Trong video lần thứ hai thì hai tay bị còng, cầm dao rạch qua rạch lại mười mấy lần.”

   Video họ đem ra chiếu lần thứ hai thì lại khác video lần thứ nhất.

Anh Trần Thanh Hùng
Cũng theo anh Hùng, thông qua một nhà sư ở cùng chùa, công an địa phương đã gây áp lực với cha của anh Tấn, là một tu sĩ theo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống nhất, phải chấp nhận lời giải thích là anh Tấn đã dùng dao rọc giấy để tự cắt cổ cho đến chết trong đồn công an ngày 3/5.

Truyền thông trong nước đưa tin rằng ngày 6/5, Công an tỉnh Vĩnh Long đã công bố đoạn phim “ghi lại toàn bộ quá trình làm việc giữa cán bộ an ninh điều tra với Nguyễn Hữu Tấn và hành động tự sát của Nguyễn Hữu Tấn tại phòng hỏi cung của Trại tạm giam - Công an tỉnh.”

Báo VietnamNet nói rằng “sau khi xem đoạn phim trên, người thân, cha ruột và vợ của Nguyễn Hữu Tấn cùng các vị chức sắc, chức việc, tín đồ các tôn giáo, đoàn thể và người dân địa phương đã công nhận việc Nguyễn Hữu Tấn tự sát là đúng sự thật, còn những thông tin khác trên các trang mạng xã hội hiện nay là bịa đặt, vu khống.”

Ông Nguyễn Đình Thắng, chủ tịch BPSOS, ông Dương Xuân Lương, đại diện Cao Đài Chơn Sanh, và Dân biểu Chris Smith, ngày 16/5/2017.

Thông cáo của dân biểu Chris Smith cho biết tham gia buổi điều trần tại Hạ viện, còn có tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng, Chủ tịch tổ chức phi chính phủ BPSOS, bác sĩ Nguyễn Quốc Quân, Chủ tịch tổ chức Yểm trợ Cao trào Nhân bản, và ông T. Kumar, Giám đốc phân ban Quốc tế của Ân Xá Quốc Tế.

Mời xem Video: Phật Giáo Hoà Hảo cầu nguyện và tố cáo đích danh công an tỉnh Vĩnh Long sát hại anh Nguyễn Hữu Tấn




Theo trang Machsongmedia, Tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng sẽ trình bày về các hành vi đàn áp nhắm vào các cộng đồng Phật giáo Thống nhất và Phật giáo Khmer Krom, các hội thánh Tin Lành Tây Nguyên và Tin Lành Hmong, các xứ đạo Công giáo Đông Yên và Cồn Dầu, các cộng đồng Cao Đài và Phật Giáo Hoà Hảo Độc Lập.

VOA

[Nóng] Bất ngờ người dân xuống đường biểu tình trước tư gia Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tại Hà Nội


Mời xem Video: [Nóng] Bất ngờ người dân xuống đường biểu tình trước tư gia Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tại Hà Nội




[Nóng] Bất ngờ người dân xuống đường biểu tình trước tư gia Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tại Hà Nội

Sáng 23/5/2017, tư gia Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tại Hà Nội bất ngờ bị bà con dân oan kéo đến biểu tình.


Không còn gì để bán chỉ bán... thân


Thân xác của mẹ Việt Nam đang bị những kẻ cai trị xẻ ra bán từng phần và được nhân danh “phát triển” nhưng thực tế là bán để chia chát lợi nhuận của những kẻ cầm quyền. Nếu hôm nay các bạn tiếp tục "cam chịu" hay "không phải chuyện của tôi" thì liệu ngày mai sẽ đến ngôi nhà của các bạn, mảnh đất của các bạn sẽ được thu hồi vì đó là đất “được qui hoạch” hay đất thuộc “bộ quốc phòng”. Trong một xã hội, mà đất đai, tài sản có thể bị “cướp” bất cứ giờ phút nào thì các bạn liệu có “an toàn” hay “yên bình” hay không?

Sau khi tốt nghiệp đại học, tôi đã có một thời gian khá dài làm nghề lồng tiếng cho các phim bộ Hong Kong và Đài Loan, gần 19 năm làm nghề này, có thể nói tôi đã xem và học được khá nhiều điều hay từ những nhà viết kịch bản của Hong Kong hay Đài Loan, do cơ chế tự do, sức sáng tác của họ thật dồi dào và đôi khi mang đậm những triết lý nhân sinh của người gốc Á.

Tôi nhớ có một lần, phòng chuyển âm phim bộ nhận lồng tiếng cho một loạt 2,3 vở kịch diễn sân khấu, được thu hình và phát hành, có một vở kịch mà tôi nghĩ thích hợp với câu chuyện hôm nay với các bạn, đặc biệt là các bạn đang sinh sống trong một xã hội đang có dấu hiệu bùng phát mãnh liệt có thể dẫn tới sự đổ máu vì những bất công.

Đại khái câu chuyện đó nói về một nhân vật được hư cấu, vốn là một nhà ngôn ngữ học kiêm một soạn giả nổi tiếng ở Thượng Hải, được xem là một thiên tài, về ngôn ngữ ông có khả năng nghe người đối diện nói chuyện qua âm điệu thì biết ngay là người sinh sống ở vùng nào, làng nào tại Trung Quốc.

Bên cạnh đó ông còn là một nhà soạn kịch nổi tiếng, trong một ngày làm việc của ông, ông có thể soạn một lúc 4,5 vở kịch khác nhau, vừa có thể đọc đối thoại cho kịch bản này, vừa có thể tạo ngay bố cục cho kịch bản khác, sức sáng tác dồi dào của ông khiến cho các nhân viết viết tuồng chạy không kịp với các vở kịch được ông viết.

Được sự kính trọng của hầu hết giới thượng lưu của Thượng Hải, có nhiều bạn bè tốt, nhưng đến cuối đời ông lại trở thành một ông già khùng khùng, điên điên và chết trong sự cô độc trên đường phố ở Hong Kong ở thập niên 60, sau khi trải qua hàng loạt những biến cố theo sự thăng trầm của dòng lịch sử Trung Hoa.

Tôi thích câu chuyện này, vì nó mang đậm tính triết lý về cuộc sống, đặc biệt là thời hoàng kim của nhà soạn giả ở Thượng Hải, lúc đó ông tự tin là có thể làm bất cứ điều gì như một nhà phù thủy đa năng.

Trong một cuộc ăn nhậu với bạn bè, ông đánh cá với họ rằng, sẽ biến cô gái bán hoa bên ngoài nhà hàng sang trọng nơi ông ăn nhậu, rằng chỉ trong vòng 3 tháng, ông có thể biến cô trở thành một minh tinh siêu việt nổi tiếng khắp Thượng Hải.

Và ông làm thật, kết quả đúng như lời ông cam đoan, chỉ vài tháng dưới sự nhào nắn của ông, cô gái bán hoa đã trở thành một trong những người đẹp được tung hê, được chào đón vồn vã của giới thượng lưu ở Thượng Hải.

Đương nhiên câu chuyện tránh không khỏi những tình cảm nảy sinh ra giữa ông và cô gái bán hoa, và rồi thời cuộc, ghen tuông và cái tôi to lớn đã khiến hai người hợp rồi tan, tan rồi hợp trong bối cảnh nhiễu nhương của nước Trung Hoa thời cận đại.

Một trong những lần cãi nhau gay gắt dẫn đến chia tay, cả ông và cô gái bán hoa đã có những lời gây tổn thương nặng nề cho nhau nhưng mang đậm triết lý cuộc sống:

- Không có tôi, thì giờ này cô chỉ là cô gái bán hoa ở ngoài đường thôi, làm gì được như bây giờ, được săn đón nhiệt tình của các tài phiệt Thượng Hải.

- Đúng, không có ông tôi vẫn chỉ là cô gái bán hoa, nhưng ít ra ngày xưa tôi còn có hoa để bán, bây giờ tôi chả có gì để bán nửa ngoại trừ bán… thân.

Lời nói cay đắng của cô gái từ thân phận bán hoa biến thành một thứ gái điếm hạng sang ở Thượng Hải, khiến tôi liên tưởng đến hoàn cảnh của Việt Nam ngày hôm nay, nó không khác gì với câu đối thoại trên cả các bạn ạ.

Trước năm 1975, miền Nam Việt Nam tuy chưa là một cường quốc trong khu vực, nhưng ít ra được sự kính trọng của các quốc gia và vùng lãnh thổ lân bang, tương tự như cô gái bán hoa, có được sự kính trọng thương mến của những bạn bè xe kéo, bán hàng rong, những con người lam lũ chung xóm.

Và sau năm 1975, tuy mang danh là một quốc gia thống nhất, nhưng dưới sự cai trị của đảng cộng sản, con dân Việt Nam cầm passport CHXHCNVN đi đến đâu thì bị khinh khi đến đó, và khi không còn gì để bán thì chỉ còn “cướp” đất để bán, nó cũng không khác gì cô gái bán hoa, khi trở thành gái điếm hạng sang, không còn gì để bán chỉ có bán... trôn nuôi miệng, và bị bạn bè xa lánh.

Khi nợ công chất cao như núi, không còn gì để xuất cảng, thì những kẻ cai trị chỉ biết tăng thuế, cướp đất để bán, nghĩ đến chuyện..., lách nợ, mà không đủ khả năng để nghĩ ra giải pháp.

Hàng dệt may xuất cảng thì Indonsia, Malaysia và Trung Quốc đè đến ngợp thở, nếu có dịp ra nước ngoài đến những khu shopping lớn, người ta chỉ thấy các mặc hàng quần áo đều xuất phát từ những quốc gia này, hiếm hoi lắm mới nhìn thấy hàng chữ Made In Viet Nam.

Nông, thủy sản thì trước đây chỉ thua cho Thái Lan, nay thì thua luôn cho cả Lào, Cam Bốt và Miến Điện, khi các mặc hàng này liên tục bị trả về từ khắp nơi trên thế giới vì nhiễm độc thủy ngân, nhiễm độc kim loại.

Dầu thô thì liên tục lỗ lã, giá dầu trên thế giới sụt giảm, từ lổ tới lổ.

Rừng bị tàn phá, biển bị ô nhiễm, đồng bằng sông Cữu Long bị nước mặn xâm nhập, sông Hồng thì bị hút cát khau thác vô tội vạ. tài nguyên quốc gia không còn lấy một cái gì gọi là rừng vàng biển bạc.

Việt Nam hôm nay còn gì để bán ra nước ngoài? Không, không còn gì cả ngoại trừ ….. đất đai.

Và do đó càng lúc càng có nhiều vụ “cướp” đất diễn ra khắp nơi trên toàn cỏi Việt Nam, từ bắc chí nam, nơi nào cũng có quan chức địa phương, công an, quốc phòng “cướp” đất đai để bán quyền sử dụng cho nhà đầu tư “nước ngoài” mà thực chất hầu hết là nhà đầu tư “Trung Quốc”.

Hoàn cảnh này có khác gì cô gái bán hoa biến thành bán…trôn trong câu chuyện mà tôi kể ở trên đây các bạn?

Thân xác của mẹ Việt Nam đang bị những kẻ cai trị xẻ ra bán từng phần và được nhân danh “phát triển” nhưng thực tế là bán để chia chát lợi nhuận của những kẻ cầm quyền.

Nếu hôm nay các bạn tiếp tục "cam chịu" hay “không phải chuyện của tôi” thì liệu ngày mai sẽ đến ngôi nhà của các bạn, mảnh đất của các bạn sẽ được thu hồi vì đó là đất “được qui hoạch” hay đất thuộc “bộ quốc phòng”.

Trong một xã hội, mà đất đai, tài sản có thể bị “cướp” bất cứ giờ phút nào thì các bạn liệu có “an toàn” hay “yên bình” hay không?

Chạy!!!!

Cơ hội chạy của các bạn đã chậm rồi, vì con cái của những quan chức, kẻ cầm quyền đã chạy trước, chúng ôm tài sản chạy qua xứ “tư bản giãy chết” rồi các bạn ạ, nếu các bạn có may mắn chạy thoát, ra đến bên ngoài cũng chỉ đi làm công cho con cháu của chúng vì chúng có tiền hơn các bạn, nếu các bạn không có khả năng chuyên môn, không có khả năng ngôn ngữ ở xứ sở các bạn chạy đến, thì các bạn cũng sẽ tiếp tục làm “thân cu li” cho con cháu của những kẻ cầm quyền hiện nay mà thôi.

Mời xem Video: Cuộc chiến tay ba Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Xuân Phúc và Trần Đại Quang: ai là người thắng cuộc?




Giải pháp duy nhất cứu các bạn đã có từ lâu, vấn đề là các bạn có dám dùng giải pháp đó để thay đổi số mạng của các bạn hay không, thay đổi vận mệnh của mẹ Việt Nam hay không thì tùy các bạn nhé, chúng tôi bên ngoài đã cạn lời, không can đảm một lần chịu đau để đục bỏ khối ung thư, thì các bạn chỉ chờ ngày vào quan tài mà thôi.

© Trần Nhật Phong
 
website statistics
Top ↑ Copyright © 2011. Người Đưa Tin - All Rights Reserved
Back To Top ↑