TIN NÓNG 24/7
latest

728x90

468x60

Slider

latest

Slider Right

randomposts3

Chính Trị - Xã Hội

Chính Trị - Xã Hội/block-1

Tin đáng chú ý

Điểm Tin Hàng Ngày/block-2

Thời Sự Việt Nam

Thời Sự Việt Nam/block-2

Diễn đàn - Chính trị - Xã hội

Diễn đàn dân chủ/block-3

Bình Luận - Quan Điểm

Bình Luận - Quan Điểm/block-2

Đời Sống-Xã Hội

Đời Sống-Xã Hội/block-2

Tin Video

Tin Video/block-7

Thế Giới

Thế Giới/block-5

Pháp Luật

Pháp Luật/block-2

Kinh Tế

Kinh Tế/block-2

Nhân Quyền-Dân Chủ

Nhân Quyền-Dân Chủ/block-1

Giáo Dục

Giáo Dục/block-2

Lịch Sử

Lịch Sử/block-2

Văn Học-Nghệ Thuật

Văn Học-Nghệ Thuật/block-7

Người Việt xấu xí

Người Việt xấu xí

BÀI MỚI NHẤT

Ông Thăng và Thanh ‘cầu cứu’ Tổng bí thư Trọng?


Ông Đinh La Thăng và Trịnh Xuân Thanh tại tòa.

Một ngày trước khi tòa tuyên án trong vụ xử “gây rúng động” dư luận, có ý kiến cho rằng ông Đinh La Thăng và Trịnh Xuân Thanh dường như đang “cầu xin” Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng “nương tay”.

  Cũng có thể đó là một cái nghệ thuật để mà gây ra thương cảm cho hội đồng xét xử và hoặc là lấy lòng dư luận rồi của những người đằng sau đó nữa.

Luật sư Trần Thu Nam nói.
Trong khi ông Thăng “nghẹn ngào” nói rằng “cảm nhận được sự nhân văn sâu sắc của tổng bí thư” với tuyên bố “xử lý cán bộ không phải dập cho người ta không ngóc lên được” thì ông Thanh lại “rưng rưng” xưng “cháu” và “bác” để “xin lỗi” ông Trọng, theo báo chí Việt Nam.

Luật sư Trần Thu Nam nói với VOA Việt Ngữ rằng hành động của các bị cáo từng có thời “thét ra lửa” có gì đó “không bình thường”.

Ông nói thêm: “Câu chuyện nghẹn ngào tôi đã từng gặp nhiều rồi. Ở những người từng có chức vụ, quyền hạn lớn mà nghẹn nào thì tôi ít gặp. Cũng dễ hiểu thôi, họ đang ở cái thế hơn người, quyền lực rất lớn, và hiện nay rơi xuống đáy vực, cho nên có thể họ bị sốc vì tinh thần, vì rất nhiều các vấn đề khác. Cũng có thể đó là một cái nghệ thuật để mà gây ra thương cảm cho hội đồng xét xử và hoặc là lấy lòng dư luận rồi của những người đằng sau đó nữa”.

Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Ông nhận định tiếp rằng đấy có thể là “những cái bấu víu cuối cùng để động lòng trắc ẩn của một người cao nhất trong Bộ Chính trị, mong vớt vát gì đó, có thể mức án nó sẽ nhẹ đi”.

  Tôi là luật sư trong nhiều vụ án của những người bất đồng chính kiến thì tôi thấy rằng mặc dù những người đó họ bị giam giữ rất là khắc nghiệt nhưng khi ra tòa thì họ vẫn rất thanh thản, và có những người họ còn hát ở tòa, chứ người ta không có khóc như ông Đinh La Thăng hay Trịnh Xuân Thanh.

Luật sư Hà Huy Sơn nói.

Luật sư Nam nói thêm: “Ông Thăng chắc cũng bị một cái sức ép khác. Bản thân em ruột của ông cũng bị bắt, và bị khởi tố về tội tham ô. Nếu như không có vụ án đó, ông Thăng ông sẽ mạnh mẽ hơn. Phải chăng là tất cả việc ông gạt bỏ sĩ diện để mà nhún nhường trong vụ án này, nhận hết trong vụ án này để nhằm mục đích giúp cho em ông ấy?”

Cùng quan điểm với ông Nam, luật sư Hà Huy Sơn nhận định rằng việc hai bị cáo “nghẹn ngào”, “ăn năn” vì “muốn được tòa người ta thương cảm tình cảnh để người ta giảm án thôi”.

Ông nói thêm: “Tôi là luật sư trong nhiều vụ án của những người bất đồng chính kiến thì tôi thấy rằng mặc dù những người đó họ bị giam giữ rất là khắc nghiệt nhưng khi ra tòa thì họ vẫn rất thanh thản, và có những người họ còn hát ở tòa, chứ người ta không có khóc như ông Đinh La Thăng hay Trịnh Xuân Thanh”.

Ông Đinh La Thăng bị dẫn giải ra tòa.

Về việc nguyên ủy viên Bộ Chính trị Đinh La Thăng và cựu quan chức tỉnh Hậu Giang Trịnh Xuân Thanh nhiều lần nhắc tên ông Trọng trong phần tự bào chữa, luật sư Sơn nhận định:

“Theo hiến pháp của Việt Nam quy định, đảng có quyền cao nhất và trong thực tế cũng là như vậy. Trong tình hình hiện nay, qua báo chí, ông Nguyễn Phú Trọng có quyền lực cao nhất, nên ông Thăng, ông Thanh nhắc tới ông Nguyễn Phú Trọng, theo tôi hiểu, đây cũng là một lời cầu xin gì đó với ông Trọng”.

Luật sư người Đức của ông Thanh, từng bày tỏ lo ngại rằng thân chủ của mình “không được xét xử công bằng” vì các phát ngôn trước đây của ông Trọng.
Trả lời VOA Việt Ngữ, bà Petra Isabel Schlagenhauf, luật sư người Đức của ông Thanh, từng bày tỏ lo ngại rằng thân chủ của mình “không được xét xử công bằng” vì các phát ngôn trước đây của người đứng đầu Đảng Cộng sản Việt Nam.

Chưa rõ là cựu quan chức tỉnh Hậu Giang có đề cập tới việc này trước khi bị Việt Nam “bắt cóc ở Berlin” và “bị đưa về nước” như theo lời cáo buộc của phía Đức hay không.

VOA Việt Ngữ có liên lạc với luật sư Nguyễn Văn Quynh, một trong những người bào chữa cho ông Thanh, nhưng ông từ chối trả lời do “phiên tòa đang tiếp diễn”.

Chúng tôi không thể liên lạc được với các luật sư đại diện cho ông Đinh La Thăng để hỏi ý kiến về các nhận định liên quan tới ông Trọng.

Tòa dự kiến sẽ ra phán quyết trong vụ xử về tội “cố ý làm trái quy định của nhà nước gây hậu quả nghiêm trọng” và “tham ô” vào ngày 22/1.

Trong khi ông Thăng bị đề nghị mức án tới 15 năm tù thì ông Thanh bị đề nghị án chung thân, và trong phần tự bào chữa, cả hai đều bày tỏ mong muốn làm “ma tự do”, chứ không mong làm “ma tù”.

Một góc công viên ở Berlin nơi phía Đức cáo buộc Việt Nam "bắt cóc" ông Thanh.
Nhận định với VOA Việt Ngữ, giới quan sát cho rằng Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng tung “cú đấm thép chưa từng có” trong vụ ông Đinh La Thăng và Trịnh Xuân Thanh.

Trong tuyên bố được cho là thể hiện quyết tâm lúc ông Thanh đang trốn lệnh truy nã ở Đức, ông Trọng từng nói rằng cựu quan chức tỉnh Hậu Giang này “ghê gớm, móc ngoặc, dây dợ rồi bỏ trốn đi nước ngoài, nhưng không trốn được đâu”, theo báo chí trong nước.

Còn về ông Thăng, người đứng đầu Đảng Cộng sản Việt Nam từng tuyên bố rằng cựu Bí thư thành ủy TP HCM này “vào tội nào sẽ [bị] xử lý tiếp” theo “đúng quy định của pháp luật”.


Viễn Đông
VOA

53,000 người Việt có thể sạt nghiệp vì ‘tiền ảo’ Bitcoin


Một người ngồi theo dõi thị trường “tiền ảo” Bitcoin trên máy điện toán. (Hình: Jack Guez/AFP/Getty Images)

SÀI GÒN, Việt Nam – Khoảng 53,000 người Việt Nam lao vào đầu tư “tiền ảo” trên mạng, gọi là Bitcoin, có thể sạt nghiệp vì tính chất bất định của thị trường và một số chính phủ trên thế giới cấm giao dịch.

Một số tờ báo tại Việt Nam như Lao Động, VietNamNet, Tuổi Trẻ, VNExpress viết về nguy cơ “mất trắng” tiền thật của khoảng 53,000 nhà đầu tư chứng khoán tại Việt Nam muốn một sớm một chiều thành triệu phú đô la khi lao vào đồng tiền kỹ thuật số hay gọi là “tiền ảo” qua một mạng lưới giao dịch với gần một ngàn tổ chức khác nhau.

Cơn sốt đầu tư vào “tiền ảo” Bitcoin bùng nổ dữ dội hồi năm ngoái, khi mà 1 đồng Bitcoin những ai đầu tư trước đó, ngày 1 Tháng Giêng, 2017, trị giá $970, thì cuối năm 2017 có lúc đã lên đến $20,000. Mức lời gia tăng nhanh chóng như hỏa tiễn siêu thanh đã làm giới đầu tư tài chính khắp thế giới lên cơn sốt, bất chấp các lời cảnh cáo từ các chuyên gia cũng như sự chống đối của một số chính phủ.

Đồng tiền ảo Bitcoin ra đời từ năm 2008 nhưng mới trở thành mạng giao dịch phổ biến trên thế giới vào Tháng Sáu, 2010. Ba năm sau thì được sử dụng trên cả phương diện thanh toán, giao dịch hàng hóa và tài sản đầu tư tại nhiều quốc gia.

Bitcoin là “tiền ảo,” tức những thuật toán mật mã cao cấp mà nền tảng của nó là một mã nguồn mở, không dính đến các ngân hàng trung ương của các chính phủ, tức cơ quan phát hành tiền tệ của các nước. Bất cứ ai hiểu về điện toán cũng có thể tham gia “đào Bitcoin” bằng cách dùng hệ thống máy tính để giải các thuật toán ngày một phức tạp. Không có một ngân hàng trung ương nào, kể cả người đã tạo ra nó có thể quản lý Bitcoin.

Bitcoin có thể được sử dụng để thanh toán, mua sắm, cho vay, thay cho tiền thật của tất cả mọi nước, trao đổi, đầu tư qua máy điện toán hoặc ngay trên điện thoại thông minh. Sự tiện lợi vượt mọi biên giới quốc gia đã tạo thành phong trào quốc tế nên đã đẩy giá trị của Bitcoin vượt mặt các loại tiền thật do sự tham gia của giới đầu tư khắp nơi đổ “tiền thật” vào “tiền ảo” ngày một tăng gấp bội.

Đầu năm nay, sau khi bị chính phủ Nam Hàn cảnh cáo, một số chính phủ khác ở Châu Âu cũng cấm trong khi một số nhà đầu tư tài chính nổi tiếng của Mỹ như Warren Buffett cũng báo động về những phi lý của nó, giá trị đồng Bitcoin và những sản phẩm anh chị em của nó trên mạng như Ethereum (ETH), Ripple (XRP), Cardano (ADA), Litecoin (LTC) đã tuột dốc nhanh chóng.

Biểu đồ trên trang mạng của sàn giao dịch tiền ảo Bitconnect ngày 19 Tháng Giêng, 2018. (Hình: TN)

Ngày 17 Tháng Giêng, 2018, mạng BitConnect loan báo đóng cửa sàn giao dịch tiền ảo và cả hoạt động cho vay, sau khi nhận được hai văn bản yêu cầu ngừng hoạt động từ chính phủ các tiểu bang Texas và North Carolina của Hoa Kỳ.

Nhận được thông tin, giới đầu tư Bitcoin và nhiều đồng tiền kỹ thuật số đã bán tháo ồ ạt. Theo tin tức, giá 1 đồng Bitcoin trên sàn CoinDesk có lúc xuống tới $9,400, so ra đã mất hơn 50% trị giá so với đỉnh $19,300 giữa tháng trước.

Tại Việt Nam, Ngân Hàng Nhà Nước hồi cuối Tháng Mười năm ngoái ra thông cáo báo chí nói: “Bitcoin và các loại tiền ảo tương tự khác không phải là phương tiện thanh toán hợp pháp tại Việt Nam,” căn cứ theo “Khoản 6 Điều 27 Nghị Định 96 năm 2014 về xử phạt hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng.”

Cho nên nếu có cá nhân hay tổ chức nào “phát hành, cung ứng, sử dụng Bitcoin và các loại tiền ảo tương tự khác sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính mức từ 150 triệu đến 200 triệu đồng.” Đến ngày 1 Tháng Giêng, 2018, thì dọa rằng kẻ nào “phát hành, sử dụng tiền ảo Bitcoin sẽ bị truy cứu hình sự.”

Dù vậy, ngày 14 Tháng Giêng, 2018, báo ITC cho hay: “Theo thống kê mới nhất, tính từ ngày 1 Tháng Giêng, 2017, đến nay đã có 9,320 máy xử lý dữ liệu tự động giải mã Bitcoin, Litecoin… được nhập về Việt Nam. Thống kê cho thấy có 7,005 “máy đào” (tức máy tính được gắn chip đặc biệt) được nhập khẩu qua Cục Hải Quan Sài Gòn, 2,315 bộ nhập khẩu qua Cục Hải Quan Hà Nội.”

Tức là không ít người ở Việt Nam có tiền đầu tư vẫn lao vào thị trường tiền ảo dù bị nhà nước cấm đoán. Khi đổ tiền thật vào đầu tư lúc giá trị đồng tiền ảo đang ở mức cao, vì những yếu tố bất ngờ từ bên ngoài tác động, trị giá đồng tiền ảo xuống thấp bên dưới trị giá lúc mình đổ tiền thật vào thì sẽ khó tránh khỏi trắng tay. (TN)

Người Việt

Không hòa giải thì làm sao đoàn kết?


Không hòa giải thì làm sao đoàn kết? Hình minh họa, ảnh tư liệu

Trước những nỗ lực không ngừng nghỉ của những người VN yêu quốc gia dân tộc, trong cũng như ngoài nước, vài năm trở lại đây việc “tưởng niệm” cuộc hải chiến Hoàng Sa đồng thời vinh danh 74 chiến sĩ VNCH anh hùng vị quốc vong thân, dường như đã trở thành một “thủ tục”. Mặc đầu chỉ mới là “thủ tục không chính thức”, nhưng phải nhìn nhận đó là một sự nhượng bộ rất lớn của lãnh đạo CSVN. Đông đảo tầng lớp trí thức, cán bộ, đảng viên, tướng lãnh… xuất thân từ “bên thắng cuộc” hưởng ứng buổi lễ tưởng niệm đã khiến cho nhà cầm quyền CSVN, dầu thân thiện (hay lệ thuộc) với TQ như thế nào, cũng không thể nghiêm cấm, bắt bớ, phá rối… không cho mọi người tụ tập như vài năm về trước.

Ý chí của số đông thể hiện sức mạnh. Nhất là “ý chí” này thể hiện lòng yêu nước nồng nàn, nêu cao truyền thống chống ngoại xâm của dân tộc. Nhưng công việc này không thể ngừng ở đó. Không phải mỗi năm mọi người tham gia làm lễ tưởng niệm thì vấn đề Hoàng Sa xem như “hoàn tất”.

Các cuộc tưởng niệm, các bài báo viết ra… dầu đề cao tinh thần chiến đấu, anh dũng hy sinh của các chiến sĩ VNCH đến cách nào, cũng không thể xem đó như là việc “khẳng định chủ quyền HS” của quốc gia VN. Bởi vì những vấn đề liên quan đến “chủ quyền lãnh thổ” tuy thuộc về toàn dân. Nhưng việc tưởng niệm chỉ có giá trị pháp lý, nếu và chỉ nếu, các cuộc tổ chức này do các cơ quan có thẩm quyền quốc gia đứng ra tổ chức.

Vấn đề “chủ quyền” quần đảo Hoàng Sa cực kỳ quan trọng. Giá trị các hòn đảo, không phải là “đảo chim ỉa” như ông Hồ đã từng nói. Từ Thế chiến Thứ II, giá trị “chiến lược” các đảo (HS và TS) đã được chứng minh. Quan điểm này đến nay không thay đổi. Ai nắm được HS và TS kiểm soát cả biển Đông đồng thời chế ngự các nước chung quanh. Ngoài ra hai quần đảo HS và TS còn có tiềm năng về kinh tế cực kỳ lớn lao.

Quốc gia có chủ quyền các đảo Hoàng Sa (và TS) còn có “quyền độc quyền – droit exclusive” khai thác kinh tế trong “vùng biển” phụ thuộc các đảo Hoàng Sa (và TS). Thuật ngữ pháp lý gọi đó là vùng biển “kinh tế độc quyền” (Zone Economique Exclusive-ZEE), có thể mở rộng ra đến 200 hải lý, tính từ “bờ”, hay đường cơ bản của quần đảo.

Quốc gia có chủ quyền các đảo này vì vậy được hưởng quyền độc quyền khai thác tài nguyên thuộc về thềm lục địa, cũng như trong cột nước (tôm cá), xây dựng các kiến trúc nhân tạo… trên mặt nước… giới hạn trong vùng biển này.

Diện tích vùng biển ZEE các đảo Hoàng Sa có thể từ vài chục ngàn cây số vuông, lên đến vài trăm ngàn, thậm chí hàng triệu cây số vuông.

Điều này phụ thuộc, thứ nhứt, vào “tư cách pháp lý” của các thực thể địa lý cấu thành “quần đảo Hoàng Sa”. Nếu các thực thể địa lý này được nhìn nhận là “đảo”, vùng ZEE của mỗi đảo có thể mở rộng đến 200 hải lý, tính từ đường cơ bản của đảo (hay của quần đảo).

Thứ hai, phụ thuộc vào “tương quan sức mạnh” của các bên yêu sách.

Nếu các đảo HS vẫn còn thuộc chủ quyền của VN, vùng ZEE của quần đảo này sẽ tạo ra một vùng biển “chồng lấn” rất lớn với vùng ZEE sinh ra từ lục địa (hay đảo Hải Nam) của TQ. Dĩ nhiên, TQ sẽ không chấp nhận cho các “thực thể địa lý” Hoàng Sa có hiệu lực như là “đảo”. Bằng “áp lực” của họ, về kinh tế và quân sự, TQ sẽ buộc VN nhìn nhận các “thực thể địa lý” ở Hoàng Sa chỉ là “đá”. Vùng biển tương ứng chung quanh gọi, là “lãnh hải”, là 12 hải lý theo qui định theo quốc tế công pháp.

Nhưng nếu chủ quyền HS thuộc về TQ, như thực tế từ 43 năm nay, với “tương quan lực lượng” áp đảo, không tính quân sự, TQ chỉ cần gây áp lực trên những vấn đề kinh tế, văn hóa, chính trị… như hiện thời, VN sẽ phải chấp nhận các “thực thể địa lý HS” là các đảo, kể cả đảo Tri Tôn, có hiệu lực vùng ZEE 200 hải lý. Đường “chữ U chín đoạn” (còn gọi là đường lưỡi bò) của TQ mặc nhiên được VN nhìn nhận.

Điều này xảy ra VN có thể mất hàng trăm ngàn cây số vuông biển. Một mặt, vùng biển của các đảo HS, lý ra là của VN. Mặt khác, vùng chồng lấn ZEE giữa ZEE của HS với ZEE thềm lục địa của VN, tính từ bờ.

Nói ra những chi tiết “kỹ thuật” này để nhấn mạnh cho mọi người thấy là vấn đề Hoàng sa (và Trường sa) là hết sức quan trọng, vừa về kinh tế, vừa về an ninh chiến lược. Mà việc “tưởng niệm” hàng năm chỉ nghiêng về mặt “biểu tượng”, về “lịch sử”, không có giá trị pháp lý.

Việc này thể hiện tình ở bề ngoài tình “đoàn kết” của dân tộc, nhưng chỉ có hiệu lực “tâm lý”, tuyên truyền.

Thực chất là Hoàng Sa đang ở trong tay TQ. Trong khi TS, một số thực thể địa lý ở đây đã bị TQ chiếm (trên tay VN) từ năm 1988. Vụ TQ đe dọa khiến VN rút giàn khoan ở lô 136-03 ở phía tây-nam TS cho ta thấy đe dọa chiếm lĩnh TS cùng toàn thể Biển Đông của TQ rất là lớn.

Thể hiện tình “đoàn kết dân tộc”, như cái cách đã thấy, không hề có giá trị “kế thừa” di sản pháp lý của VNCH. Ở Hoàng Sa là “danh nghĩa chủ quyền”.

Biết bao lần tôi đặt câu hỏi: Làm thế nào nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa VN “kết thừa” Hoàng Sa từ Việt Nam Cộng Hòa?

VN hôm nay không thể “kế thừa” cái mà VNCH đã “mất”, không còn nữa. TQ đã chiếm HS trên tay VNCH trước khi miền Bắc “giải phóng” miền Nam.

Vả lại, trong thủ tục kế thừa, những câu hỏi nhức nhối từ phía các học giả, chuyên gia về quốc tế công pháp… đặt ra cho VN.

Trường hợp học giả Joële Nguyên Duy-Tân, người hết lòng với VN về vấn đề chủ quyền HS và TS. Bà đặt câu hỏi (nội dung đại khái): Làm thế nào mấy anh có thể kế thừa ở thực thể mà anh không nhìn nhận?

Tức là, ngay ở những học giả nước ngoài có lập trường thân với VN, họ cũng hoài nghi về việc “kế thừa di sản” VNCH. Huống chi các học giả TQ, họ nói, họ viết “trong ruột” nhà cầm quyền Hà nội.

Từ nhiều năm nay tôi hô hào việc “hòa giải dân tộc”, xem đó như là một “điều kiện” không thể thiếu để “kế thừa” danh nghĩa chủ quyền của VNCH tại HS. Sau này tôi đổi thành “hòa giải quốc gia”, vì việc “hòa giải dân tộc” để “kế thừa” dễ ngộ nhận với việc “hòa hợp hòa giải dân tộc”, một “vấn đề chính trị”.

Nhưng vấn đề khó khăn hiện nay của VN ở HS (và TS) không chỉ đơn thuần ở vấn đề “kế thừa” VNCH.

Quốc gia tên gọi Cộng hòa XHCN Việt Nam hôm nay là quốc gia “tiếp nối” của thực thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trên quan điểm pháp lý quốc tế, nước CHXHCNVN có nghĩa vụ phải tôn trọng và thực thi những kết ước mà VNDCCH đã ký kết với các quốc gia khác trong quá khứ.

Như vậy nước CHXHCNVN hôm nay phải có nghĩa vụ tôn trọng “công hàm 1958” của Phạm Văn Đồng, theo đó VNDCCH nhìn nhận yêu sách vùng lãnh hải 12 hải lý cũng như yêu sách chủ quyền của TQ ở HS và TS.

Để hóa giải các hứa hẹn này, khiến VN bị vướng “Estoppel” hay “Acquiescement” nếu vụ việc được đưa ra tòa quốc tế phân xử, tôi đã đề nghị lý thuyết “quốc gia chưa hoàn tất”. Theo đó VNDCCH và VNCH chỉ là “các bên” thuộc về một quốc gia “duy nhứt” là VN. Tương tự Nam Hàn, Bắc Hàn; Đông Đức, Tây Đức… Điều này tôi có đề cập trong lá thư gởi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, nhân vụ giàn khoan HD 981 đặt trên thềm lục địa của VN, tháng Năm năm 2014.

Ý kiến của tôi được các “học giả” VN mượn lại. Tuy có “chế biến” để khác đi, dầu sao cũng là điều mừng, nếu mục đích nhằm phục vụ cho quyền lợi của đất nước và dân tộc VN.

Nhưng điều lo ngại, như “thông lệ”, những gì tuy có lợi cho đất nước, cho dân tộc, nhưng “có hại” cho quyền lợi của đảng, thì vấn đề sẽ khác đi.

Khi tôi làm nghiên cứu, viết về “biên giới, lãnh thổ” thì lập tức có những “học giả” VN cũng nghiên cứu chủ đề này. Nhưng mục đích của họ không phải để đi tìm “sự thật”, mà để lấp liếm, che đậy những hành vi nhượng đất của lãnh đạo CSVN. (Điều này có dịp thuận tiện sẽ quay trở lại).

Khi tôi viết về chủ quyền HS, TS, về hải phận… thì cũng có học giả VN viết về chủ đề này. Dĩ nhiên cũng để lái vấn đề qua chỗ khác, không để ai nhìn thấy những sai lầm, những việc nhượng bộ mờ ám của lãnh đạo CSVN ở Biển Đông.

Điều này thể hiện trên thực tế, thí dụ tôi đề nghị lý thuyết “quốc gia duy nhứt” thì họ cũng lặp lại y như vậy. Nhưng với quan điểm “giải phóng và thống nhứt dân tộc”.

Tôi đề cập nhiều lần, có người dân miền Nam nào muốn CSVN “giải phóng” mình hay không? Ngay cả quan chức CSVN, ông Đinh La Thăng cũng nhìn nhận Sài gòn đã từng là “Hòn ngọc Viễn Đông”. Đây là sự thật, và sự thật là dân miền Nam giàu có, văn minh hơn miền Bắc. Thì chính nghĩa của “giải phóng” ở đây là cái gì?

Khi tôi viết “hòa giải quốc gia” thì họ nhập nhằng “hòa hợp hòa giải dân tộc” hay “đoàn kết dân tộc”. Làm thế nào hai bên còn “hận thù”, còn đầy dẫy gút mắc, nếu chưa thông qua thủ tục “hòa giải” thì làm sao có thể “đoàn kết” hay “hòa hợp” được?

Kể ra thì rất dài, khi tôi viết luật pháp quốc gia, về “nhà nước pháp trị” thì các “học giả” cũng viết về luật, nhưng mục đích để bênh vực “nhà nước pháp quyền” của đảng CSVN v.v…

Mình làm cái gì thì các “chiến sĩ văn hóa” cũng làm cái nấy.

Cá nhân tôi, lâu nay làm gì cũng chỉ có “một mình”. Mặc dầu làm việc hữu ích cho “lịch sử”, cho dân tộc VN, nhưng chưa hề có cá nhân, đảng phải, tổ chức, cơ quan báo chí… nào ủng hộ hết cả. Từ khi có internet, có facebook, các ý kiến của tôi mới được một số bạn bè chia sẻ. Thật tình rất cám ơn.

Đến nay vấn đề đã “cấp bách” lắm rồi, nếu không nói là đã quá trễ rồi. Những gì cần phải viết về chủ quyền HS và TS tôi đã viết nhiều lần, hôm nay chỉ là lặp lại.

Dầu sao thì lương tâm của mình cũng nhẹ nhàng, mặc dầu không thiếu những người xem tôi là “thế lực thù địch”, hay chỉ trích “làm lợi cho TQ”. Ngay cả khi Biển Đông và TS không còn thuộc VN, tôi nghĩ mình đã xong bổn phận.

Bởi vì sức lực và trí tuệ của mình có hạn. Mà cả vú còn lấp được miệng em. Huống chi…


Trương Nhân Tuấn
FB Trương Nhân Tuấn

Vì sao chủ nghĩa xã hội thất bại?


chủ nghĩa xã hội sụp đổ. Nguồn: Internet

Khi Liên bang Xô viết gần sụp đổ, Francis Fukuyama tuyên bố chế độ dân chủ tự do đã chiến thắng chủ nghĩa xã hội kế hoạch hóa trong bài nhận định năm 1989 của ông, “Điểm tận cùng của Lịch sử?”. Hơn một phần tư thế kỷ sau đó, Liên xô quả thực đã tan rã. Phần lãnh thổ Đông Âu của nó bây giờ thuộc về Liên minh Âu châu.

Trung Quốc có một nền kinh tế thị trường cho dù đất nước vẫn bị cai trị bởi một đảng duy nhất. Còn các nhà nước “xã hội chủ nghĩa” Bắc Hàn, Cuba và Venezuela đang trong đống đổ nát về kinh tế. Giờ đây, ít ai ủng hộ việc “quay lại Liên xô”. Nhưng đồng thời, nhiều người vẫn coi chủ nghĩa xã hội là một hệ thống kinh tế hấp dẫn. Hãy xem trường hợp ông Bernie Sanders (**) – một người công khai thừa nhận ủng hộ một nước Mỹ xã hội chủ nghĩa – và rất nhiều người trẻ trưởng thành vào điểm chuyển giao giữa hai thế kỷ ưa thích chủ nghĩa xã hội hơn chủ nghĩa tư bản.

Sự tương đồng về kỵ sĩ và con ngựa giải thích cho sự hấp dẫn kéo dài của chủ nghĩa xã hội. Những người xã hội chủ nghĩa tin rằng các chế độ xã hội chủ nghĩa đã chọn sai kỵ sĩ để cưỡi con ngựa xã hội chủ nghĩa đi tới chiến thắng xứng đáng với nó. Những kỵ sĩ tệ hại như Stalin, Mao, Fidel, Pol Pot và Hugo Chavez đã chọn những chiến thuật và chính sách dẫn con ngựa xã hội chủ nghĩa của họ đi trật đường. Nhưng trên thực tế, một cái nhìn vào cách thức Liên xô hoạt động lại bộc lộ rằng, chính bản thân con ngựa mới là vấn đề.

Sau khi giành được quyền lực một thế kỷ trước và nắm giữ quyền lực thông qua một cuộc nội chiến, những người cộng sản Liên xô có ý định xây dựng một nhà nước xã hội chủ nghĩa sẽ chôn vùi chủ nghĩa tư bản. Sở hữu nhà nước và kế hoạch hóa khoa học sẽ thay thế cho tình trạng vô chính phủ của thị trường. Lợi ích vật chất sẽ dồn về phía giai cấp lao động. Một nền kinh tế công bằng sẽ thay cho sự bóc lột của chủ nghĩa tư bản và con người mới xã hội chủ nghĩa sẽ nổi lên, những người đặt ưu tiên cho lợi ích của xã hội lên trên lợi ích cá nhân. Chuyên chính vô sản sẽ bảo đảm quyền lợi của giai cấp lao động. Thay vì bóc lột giá trị thặng dư từ người lao động, nhà nước xã hội chủ nghĩa sẽ lấy đồ cống nạp của các nhà tư bản để tài trợ cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Những nền tảng căn bản của “con ngựa” Xô-viết đã được thiết lập vào đầu thập niên 1930. Theo hệ thống này, Stalin và bộ chính trị của ông ta đặt ra những ưu tiên chung cho các bộ công nghiệp và ủy ban kế hoạch nhà nước. Các bộ và các nhà kế hoạch làm việc cùng nhau để soạn ra các kế hoạch kinh tế. Cán bộ quản lý của hàng trăm ngàn nhà máy, công xưởng, cửa hàng thực phẩm và ngay đến các nông trại đều bị pháp luật bắt buộc phải hoàn thành kế hoạch mà cấp trên giao cho.

Nhà nước Xô-viết khởi động nền kinh tế kế hoạch hóa xã hội chủ nghĩa của họ khi thế giới tư bản chủ nghĩa chìm sâu vào suy thoái, chiến tranh thương mại và lạm phát phi mã. Chính quyền Xô-viết khoe khoang về mức tăng trưởng chưa từng có trước đây. Các tổ hợp công nghiệp mới mọc lên từ số không. Các tạp chí đăng hình ảnh những công nhân vui sướng nghỉ ngơi trong những khu nghỉ mát đầy đủ tiện nghi. Thông điệp là: Phương Tây đang thất bại và hệ thống kinh tế Xô-viết là con đường đi tới tương lai.

Khi cuộc cạnh tranh giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội Liên xô trở nên rõ rệt trong thời Chiến tranh Lạnh, hoạt động nghiên cứu học thuật nghiêm túc về nền kinh tế Xô-viết cũng bắt đầu. Chương trình nghiên cứu bao quát của các học giả phương Tây nhắm vào “kế hoạch hóa khoa học” – những người xã hội chủ nghĩa tin rằng các chuyên gia kỹ trị có thể quản lý nền kinh tế tốt hơn là những lực lượng thị trường tự phát. Suy cho cùng, chẳng phải các chuyên gia thì hiểu biết hơn người mua người bán về chuyện cần sản xuất cái gì, như thế nào và cho ai sử dụng hay sao?

Chính các nhà kinh tế học người Áo F.A. Hayek và Ludwig von Mises là những người chống lại niềm tin này quyết liệt nhất. Trong sự phê phán có tính biểu tượng của họ, được trình bày trong hàng loạt công trình nghiên cứu từ thập niên 1920 đến 1940, họ đi đến kết luận rằng chủ nghĩa xã hội sẽ thất bại. Trong các nền kinh tế hiện đại, hàng trăm ngàn doanh nghiệp sản xuất ra hàng triệu sản phẩm. Quản lý một số lượng lớn như vậy là việc quá phức tạp mà không một cơ quan hành chính nào có thể phân bổ nguồn lực nổi, cho dù có sự trợ giúp của công nghệ máy tính tinh vi nhất. Kinh tế hiện đại do đó quá phức tạp và không kế hoạch hóa được. Không có thị trường và giá cả, các nhà hoạch định chính sách không biết được mặt hàng nào bị khan hiếm, sản phẩm nào dư thừa. Nếu tài sản thuộc về mọi người, thì những người quản lý tài sản cho xã hội sẽ phải theo những luật lệ nào?

Giải pháp của người Xô-viết cho những vấn đề về tính phức tạp và thông tin là một kế hoạch quốc gia đặt mục tiêu sản xuất cho những khu vực kinh tế lớn chứ không phải cho những giao dịch cụ thể. Nói cách khác, thay vì bắt buộc nhà máy A phải giao cho nhà máy B 10 tấn dây cáp thép, các nhà kế hoạch đặt mục tiêu tổng số tấn dây cáp được sản xuất trong cả nước. Chỉ có một số mặt hàng đặc biệt – chẳng hạn như dầu thô, quặng nhôm, than nâu, điện năng và toa vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt – mới được lập kế hoạch như những giao dịch thật sự. Còn tất cả những mặt hàng khác chỉ được kế hoạch hóa theo số lượng thô, chẳng hạn như đặt mục tiêu dệt ra vài triệu mét vuông vải. Các đặc điểm của sản phẩm, kế hoạch giao hàng và thanh toán tiền chỉ được vạch ra ở những cấp thấp, và thường dẫn tới những kết quả thảm hại.

Kế hoạch hóa khoa học kiểu Xô viết trong thực tế chỉ tác động tới một phần rất nhỏ sản phẩm. Vào đầu thập niên 1950, các cơ quan trung ương lập ra hơn 10.000 chỉ mục kế hoạch trong khi sản phẩm công nghiệp có đến hơn 20 triệu chỉ mục khác nhau. Các cơ quan trung ương lập ra những kế hoạch tổng quát cho các bộ công nghiệp, các bộ này lại đề ra những kế hoạch chi tiết hơn cho các “khu hành chính quan trọng”, nơi sẽ chuẩn bị kế hoạch cho các doanh nghiệp. Không bao giờ có yêu cầu các quan chức hàng đầu phải đưa ra kế hoạch sản xuất các sản phẩm đặc biệt nào đó.

Để làm cho vấn đề thêm phức tạp, gần như tất cả mọi kế hoạch đều chỉ là “dự thảo”, có thể được thay đổi bất cứ lúc nào bởi các quan chức của đảng và chính quyền cấp cao hơn. Sự can thiệp thường xuyên này, gọi là “giám sát”, là một điều phiền toái xảy ra từ ngày đầu tiên tới ngày cuối cùng của hệ thống Xô-viết, nhưng đó cũng là cột trụ cho công cuộc phân bổ nguồn lực.

Các nhà kế hoạch trung ương chuẩn bị những kế hoạch sơ bộ cho một bộ phận nhỏ của nền kinh tế. Những “kế hoạch dự thảo” này lại kích hoạt “những trận chiến giành kế hoạch” to lớn khi các bộ và các doanh nghiệp tìm cách hoàn thành mục tiêu sản xuất của họ và đáp ứng các định mức giao hàng; tất cả những chuyện này đều có thể thay đổi bởi các cán bộ đảng và cán bộ địa phương vào bất cứ lúc nào.

Như bộ trưởng công nghiệp nặng Sergo Ordzhonokidze than phiền vào năm 1930: “Tôi đoán họ nghĩ rằng chúng tôi là một lũ ngốc. Mỗi ngày họ cho chúng tôi từ nghị quyết này đến nghị quyết khác mà không có cơ sở nào cả”. Một nửa thế kỷ sau một nhà thầu quốc phòng ẩn danh cũng đưa ra lời than phiền tương tự: “Họ nhúng mũi vào mọi vấn đề. Chúng tôi bảo họ rằng họ đã sai, nhưng họ vẫn đòi phải làm theo cách của họ”.

Nhiệm vụ của người quản lý được cho là rất đơn giản: Kế hoạch là pháp lệnh, công việc của người quản lý là hoàn thành kế hoạch. Nhưng kế hoạch cứ tiếp tục thay đổi. Hơn thế nữa, nó bao gồm nhiều nhiệm vụ khác nhau, chẳng hạn như giao hàng, sản lượng và phân loại. Xuyên qua toàn bộ lịch sử của Liên xô, tổng sản lượng gộp (đo bằng tấn, mét hoặc toa hàng/dặm) là các chỉ tiêu kế hoạch quan trọng nhất và cũng dễ thao túng nhất. Các nhà sản xuất đinh chẳng hạn, mà sản lượng được tính theo trọng lượng, chỉ sản xuất các loại đinh to và nặng. Các nhà sản xuất máy kéo, cố gắng hoàn thành định mức máy kéo, bị phát hiện chỉ giao cho khách hàng những chiếc máy kéo không có động cơ; buộc khách hàng phải mua động cơ như mua phụ tùng. Các nhà sản xuất giày mà kế hoạch dựa trên số lượng giày làm ra chỉ sản xuất giày cùng một cỡ, cùng một màu, bất chấp nỗi khổ tâm của khách hàng. Những mục tiêu kế hoạch khác, chẳng hạn như áp dụng công nghệ mới hoặc làm giảm chi phí sản xuất, bị lãng quên vì bị coi là không có tác dụng giúp hoàn thành kế hoạch.

Dưới chế độ kế hoạch hóa khoa học, cung cầu phải gần ngang nhau – và do ác cảm của họ đối với tính lộn xộn của thị trường, các nhà kế hoạch Xô-viết không thể cân đối cung cầu bằng cách nâng giá hoặc hạ giá. Thay vì vậy, họ soạn ra cái gọi là “cân đối vật chất”, sử dụng phép kế toán cổ xưa để so sánh những vật liệu nào đang có sẵn với những vật liệu cần có theo một nghĩa nào đó.

Kế hoạch hóa cân đối-vật chất kiểu Xô-viết có rất nhiều khiếm khuyết. Ví dụ, chỉ có thể soạn ra một số sự cân đối – năm 1938 chỉ có 379 sự cân đối ở trung ương được chuẩn bị cho một thị trường có hàng triệu mặt hàng. Và rồi, những sự cân đối này lại dựa trên những thông tin méo mó. Các nhà sản xuất hàng hóa trong phép cân đối này vận động để được phân bổ những mục tiêu thấp, che giấu năng lực sản xuất thật của họ. Những người sử dụng sản phẩm công nghiệp trong phép cân đối, ngược lại, lại khai vống lên những gì họ cần để bảo đảm việc hoàn thành kế hoạch của riêng họ.

Hình dung ra một sự cân đối thích hợp là một công việc mệt mỏi – và các nhà kế hoạch Xô-viết không phải năm nào cũng sáng tác ra cái mới; thay vì vậy, họ áp dụng cách gọi là “kế hoạch hóa từ mức độ đã hoàn tất”, nghĩa là kế hoạch của mỗi năm là kế hoạch của năm trước đó cộng thêm một số điều chỉnh nhỏ.

Vào đầu thập niên 1930, các cơ quan cung cấp phân phối nguyên vật liệu dựa trên những gì họ đã làm trong năm trước đó. Lướt nhanh đến thập niên 1980, cũng vẫn thấy cung cách làm việc như vậy. Khi một nhà sản xuất vật liệu nghề hàn muốn sử dụng tấm kim loại mỏng hơn thì câu trả lời chính thức là: “Tôi không quan tâm tới công nghệ mới. Cứ làm như cũ để mọi sự vẫn như cũ”. Kế hoạch hóa cân đối vật chất là kẻ thù của sản phẩm mới và công nghệ mới bởi vì chúng đòi hỏi phải làm lại một hệ thống các cân đối vốn đã rất mong manh. Các nhà kinh tế học Mỹ nghiên cứu sản xuất công nghiệp của Liên xô trong thập niên 1950 hết sức ngạc nhiên khi thấy những cỗ máy đã sản xuất vài thập niên mà không hề được cải tiến gì cả, một chuyện chưa từng nghe thấy ở phương Tây.

Kế hoạch hóa cân đối vật chất là điểm yếu cơ bản nhất của hệ thống Xô-viết. Nó làm cho nền kinh tế Liên xô bị đông cứng lại. Sản xuất của mỗi năm là bản sao chép năm trước đó. Một cán bộ quản lý Liên xô năm 1985 sẽ cảm thấy hết sức thoải mái trong cùng doanh nghiệp đó vào năm 1935.

Ngoài kế hoạch hóa cân đối vật chất, ngân sách mềm (soft budgets) cũng tạo thành một khuyết điểm nghiêm trọng khác. Nhà kinh tế học Janos Kornai của trường Đại học Harvard lớn lên ở Hungary dưới thời xã hội chủ nghĩa kế hoạch hóa. Nghiên cứu của ông, dựa trên những trải nghiệm trực tiếp, tập trung vào những thất thoát kinh tế diễn ra cùng với những giới hạn của ngân sách mềm. Theo Kornai, nếu doanh nghiệp không phải đối mặt với nguy cơ phá sản, chúng sẽ không tìm cách cắt giảm chi phí và tìm những chiến lược sinh tồn khác. Từ ngày đầu tiên của hệ thống Xô-viết, các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ đã hiểu rằng họ sẽ được tự động cứu nguy, nếu không nói là cứu ngay.

Nguyên nhân ban đầu của chính sách ngân sách mềm là do hệ thống Xô-viết dựa trên kế hoạch sản lượng. Đầu ra của doanh nghiệp này là đầu vào của doanh nghiệp khác. Nếu kế hoạch sản lượng bị đổ vỡ thì toàn bộ kế hoạch sẽ thất bại. Đưa một doanh nghiệp ra khỏi nền sản xuất do làm ăn kém cỏi không đơn giản là một sự lựa chọn.

Trong thực tế, các doanh nghiệp thua lỗ thường trả các khoản tiền hàng bằng trái phiếu ghi nợ (IOU). Các phiếu ghi nợ không được thanh toán đúng hạn sẽ nhiều lên dần rồi đạt tới quy mô khủng hoảng. Gosbank, tức ngân hàng nhà nước Liên xô – sẽ vào cuộc và giải quyết các hóa đơn chưa thanh toán bằng cách phát hành thêm tiền và tạo ra cái mà các quan chức ngân hàng Xô-viết gọi là “treo tiền” – đồng tiền chạy theo hàng hóa hơn là có hàng hóa để mua. Trong thực tế, việc kinh doanh chính của Gosbank trong những năm đầu tiên của hệ thống Liên xô là tổ chức những vụ cứu nguy tài chính. Khi một vụ cứu nguy này hoàn tất cũng là lúc bắt đầu tiến hành vụ cứu nguy kế tiếp.

Ảnh minh họa. Nguồn: Barbara Kelley

Vấn đề của chủ nghĩa xã hội không phải là kỵ sĩ tồi mà là chính con ngựa. Hệ thống kinh tế Xô-viết mắc nhiều chứng bệnh cuối cùng sẽ làm nó ngã quỵ. Bắt đầu từ cuối thập niên 1960, kinh tế Liên xô rơi vào cuộc suy thoái kéo dài, về sau được gọi là “giai đoạn trì trệ”. Mikhail Gorbachev được chọn làm tổng bí thư đảng Cộng sản Liên xô năm 1985 với cam kết rằng ông, một nhà cải cách cấp tiến, sẽ đảo ngược đà suy thoái này.

Gorbachev đã thất bại vì cốt lõi của hệ thống kế hoạch hóa Xô-viết đã mục ruỗng. Bất chấp thiên hướng cải cách của ông, Gorbachev vẫn là một tín đồ của chủ nghĩa xã hội. Ông quyết tâm cứu vãn chủ nghĩa xã hội Xô-viết bằng cách làm cho nó giống với chủ nghĩa tư bản. Khi làm như vậy, ông đã tạo ra một nền kinh tế không phải là kế hoạch hóa, cũng không phải kinh tế thị trường – một cuộc tranh chấp đầy hỗn loạn, mà nhân dân Nga tới hôm nay vẫn buồn rầu gọi đó là “chủ nghĩa tư bản hoang dã”.

Tác giả: Paul R. Gregory
Dịch giả: Hiếu Chân
Viet-studies
Nguồn: Why Socialism Fails - Paul R. Gregory | Hoover Institution

(*) Paul Roderick Gregory lấy bằng tiến sĩ kinh tế tại Đại học Harvard, làm nghiên cứu viên của Viện Hoover, giáo sư khoa kinh tế của Đại học Houston, Texas; giáo sư nghiên cứu tại Học viện Đức về nghiên cứu kinh tế ở Berlin; chủ tịch danh dự Ban Tư vấn quốc tế trường Kinh tế Kiev (Ukraine). Ông cũng đồng thời là giáo sư thỉnh giảng các trường Đại học quốc gia Moscow (Nga), Đại học Viadrina (Nga) và Đại học Tự do Berlin (Đức).

(**) Bernie Sanders: Thượng nghị sĩ Dân chủ bang Vermont, Hoa Kỳ, thất bại trong cuộc tranh giành với bà Hillary Clinton tư cách đại diện đảng Dân chủ ra tranh cử tổng thống Mỹ trong cuộc bầu cử tháng 11-2016.

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2018: Đi ngược với tự do tôn giáo thế giới


Hòa Thượng Thích Không Tánh bên đống đổ nát của Chùa Liên Trì.

Sau khi Luật Tín ngưỡng Tôn giáo (TNTG) được chính thức thông qua sau kỳ họp thứ hai, khóa XIV, đại diện các tôn giáo lớn ở Việt Nam đã từng lên tiếng phản đối 1 số điều khoản mang tính kiểm soát quyền tự do tôn giáo và chỉ chú trọng quản lý Nhà nước. Tuy nhiên, bộ luật này vẫn có hiệu lực thi hành vào ngày 1 tháng Giêng 2018.

Những ràng buộc rất tinh tế

Khi Luật Tín ngưỡng Tôn giáo được Quốc hội thông qua vào tháng 12/2016, Linh mục Phan Văn Lợi, thành viên Hội đồng Liên Tôn từng có thông cáo bác bỏ và lý do ông phản đối là “ở các nước văn minh người ta không bao giờ ra luật tôn giáo cả”. Lý do thứ hai ông nêu ra là: “Các luật lệ trong chế độ cộng sản này không để phục vụ nhân quyền mà chỉ để phục vụ cho sự cai trị của đảng cộng sản mà thôi.”

Đây cũng là những điểm bất cập mà Linh mục Nguyễn Thanh Tịnh, thuộc Giáo phận Vinh nhắc đến. Ông nói rằng nếu nhìn thoạt nhìn qua, có thể cho là 1 sự tiến bộ, nhưng nếu đọc kỹ lại thì lại chính là những rào cản cho tôn giáo và ông khẳng định “những điều đó không có khả năng thực hiện trên thực tế”.

Ông gọi đó là “những ràng buộc rất tinh tế”.

“Có 1 số điểm cũng tích cực như công nhận pháp nhân kinh doanh của các giáo xứ, hoặc các tổ chức tôn giáo có thể tham gia giáo dục, y tế. Nhưng trong Luật Giáo dục thì không công nhận để cho tổ chức tôn giáo mở các trường tư thục của tôn giáo. Cho nên chính Luật Giáo dục lại hạn chế lại Luật Tôn giáo.

Hoặc là trên lĩnh vực đất đai chẳng hạn, họ nói rằng các tổ chức tôn giáo có quyền sử dụng, mua bán, chuyển nhượng, thừa kế…Nhưng luật đất đai không công nhận không cho tổ chức tôn giáo thừa kế hoặc tặng, mua bán, chỉ có con đường là nhà nước cấp thôi.”

  Nếu đọc sơ qua mình sẽ thấy có vẻ như người ta mở ra nhiều, cho tự do nhiều hơn các văn bản trước kia, nhưng thật sự họ thòng thêm 1 câu phía sau là ‘theo qui định của pháp luật’, rồi lại thêm những văn bản hướng dẫn. Thành ra tự do nhưng phải theo qui định của người ta, tức là những văn bản dưới luật là những văn bản thực hiện. Thật sự mà nói là nó không tự do như trước kia và nó còn đi lùi lại.

- Linh mục Nguyễn Thanh Tịnh
Do đó ông nói rằng khi đọc lên những điều khoản về đất đai, giáo dục của Luật TNTG thì có vẻ như mình được quyền đó nhưng thực chất là đã bị hạn chế trong từng bộ luật cụ thể.

Nhận xét của Mục sư Nguyễn Mạnh Hùng, cũng là một thành viên của Hội đồng Liên tôn Việt Nam cho biết, “nếu xem kỹ Luật TNTG sẽ thấy thật sự không có tự do như những điều luật đã ghi trong đó và thể hiện một sự đi lùi so với trước kia”.

“Nếu đọc sơ qua mình sẽ thấy có vẻ như người ta mở ra nhiều, cho tự do nhiều hơn các văn bản trước kia, nhưng thật sự họ thòng thêm 1 câu phía sau là ‘theo qui định của pháp luật’, rồi lại thêm những văn bản hướng dẫn. Thành ra tự do nhưng phải theo qui định của người ta, tức là những văn bản dưới luật là những văn bản thực hiện. Thật sự mà nói là nó không tự do như trước kia và nó còn đi lùi lại.”

Linh mục Nguyễn Thanh Tịnh cũng có nhận định như thế khi ông nói rằng “đó là bước thụt lùi so với pháp lệnh 2003.”

Chia sẻ về lộ trình xây dựng bộ luật này, Linh mục Nguyễn Thanh Tịnh cho biết là dựa trên pháp lệnh về tự do tín ngưỡng tôn giáo trước đó, sau một thời gian thì phát triển thành luật. Tuy nhiên, trong thời gian áp dụng pháp lệnh đó vốn đã có nhiều bất cập. Cho nên khi xây dựng thành luật, họ có gửi các văn bản đến các tổ chức tôn giáo để lấy ý kiến. Ông cho biết riêng giáo phận Vinh có 3 bản góp ý cụ thể và khá dài, dựa trên Tuyên ngôn nhân quyền và Công ước quốc tế.

“Dự thảo sau đó có sửa lại theo hướng của mình khá nhiều. Đức Cha và những người làm bản góp ý đó cảm thấy hài lòng, mặc dù không phải hài lòng tất cả nhưng thấy có chuyển biến theo góp ý của mình.

Nhưng sau rồi đùng 1 cái khi ban hành luật thì họ lại bỏ ra. Những điều mình đã góp ý và đưa vào dự thảo đó lại chuyển trở lại.

Đi ngược với tự do tôn giáo thế giới

Ban Tôn Giáo Chính phủ hôm 19/1 đưa ra bản báo cáo khẳng định thông qua Luật TNTG là cần thiết và phù hợp với công ước quốc tế. Trong đó cũng nêu rõ “tự do TNTG là một trong những quyền nhân thân cơ bản của con người.”

Tuy nhiên, Mục sư Nguyễn Mạnh Hùng cho biết Hội đồng giám mục bên Công giáo từng góp ý về Bộ Luật TNTG, nói rằng hầu hết những điều trong đó là đi ngược lại với tự do tôn giáo.

“Nội dung trong đó là đi ngược lại với tự do tôn giáo và đồng thời có những điểm gây khó khăn hơn, đặc biệt là sự kiểm soát của nhà nước, can thiệp rất sâu vào công việc nội bộ của tôn giáo như phong chức phẩm, rồi các việc giảng đạo, đào tạo tu sĩ. Nói chung vấn đề nội bộ tôn giáo đều phải có thông qua của Ban Tôn giáo chính phủ.”

Linh mục Nguyễn Thanh Tịnh nói rằng Tự do tín ngưỡng – tôn giáo vốn đã là một văn minh chung của nhân loại, lẽ ra cần phải được xác nhận ngay từ đầu trong pháp lệnh tôn giáo. Chính vì vậy khi Luật TNTG đề cập đến tự do tín ngưỡng-tôn giáo, ông cho rằng đó là 1 qui định trong các điều khoản chung. Câu hỏi quan trọng ông đặt ra là từng vấn đề cụ thể sẽ được giải quyết như thế nào, và việc áp dụng có thể hiện được quyền tự do tôn giáo và nhân thân của mỗi người hay không?

  Nội dung trong đó là đi ngược lại với tự do tôn giáo và đồng thời có những điểm gây khó khăn hơn, đặc biệt là sự kiểm soát của nhà nước, can thiệp rất sâu vào công việc nội bộ của tôn giáo như phong chức phẩm, rồi các việc giảng đạo, đào tạo tu sĩ. Nói chung vấn đề nội bộ tôn giáo đều phải có thông qua của Ban Tôn giáo chính phủ.

- Mục sư Nguyễn Mạnh Hùng
Ông xem đây là vấn đề bất cập của Luật TNTG.

“Chiều hướng là họ không muốn phát triển tự do tôn giáo theo chiều hướng chung của nhân loại mà phải nằm trong sự khống chế để theo hướng của Đảng Cộng sản Việt Nam mong muốn.”

Nói về sự can thiệp của Ban Tôn giáo chính phủ vào những quyết định nội bộ của tôn giáo, sự việc ở Đan Viện Thiên An là một ví dụ điển hình. Hôm 31 tháng 12 năm 2017 các Đan sĩ đan viện Thiên An đã gửi thư phản đối đến UBND Thừa Thiên Huế về việc Phó Chủ tịch UBND tỉnh Thừa thiên Huế, ông Phan Ngọc Thọ đã có những sai phạm khi ký đề nghị Tổ chức Tôn giáo quốc tế không tiếp tục bổ nhiệm Linh mục Nguyễn Huyền Đức làm Bề trên Đan viện Thiên An (ĐVTA) và thuyên chuyển ông ra ngoài địa bàn tỉnh.

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo Việt Nam có hiệu lực ngày 1/1/2018. Mười ngày sau, tổ chức Open Doors, một tổ chức quốc tế bảo vệ Thiên Chúa giáo, vào ngày 10/1 đã công bố danh sách 50 quốc gia có tình trạng đàn áp tín đồ Kito giáo tồi tệ nhất trên thế giới trong năm qua, trong đó Việt Nam xếp thứ 18. Bà Kristina Arriaga, Phó Chủ tịch Ủy hội của Hoa Kỳ về Tự do Tôn giáo Quốc tế (USCIRF) nói với RFA rằng “Ở Việt Nam, bạn phải theo sự sắp xếp và chỉ đạo của Nhà nước mà không được phép làm bất cứ chuyện gì ngoài tầm kiểm soát của Chính phủ.”

RFA

CSVN loay hoay ‘kiểm soát quyền lực’


Cựu Ủy Viên Bộ Chính Trị CSVN Đinh La Thăng bị đưa ra tòa vì tội “Cố ý làm trái...” (Hình: AFP/Getty Images)

Tuy đẻ ra nhiều thứ quy định nhưng vẫn “còn nhiều khe hở, lỗ hổng, tồn tại nhiều hạn chế, yếu kém, chưa có cơ chế để kiểm soát quyền lực” nên những đảng viên “ranh ma” đã khéo lợi dụng.

Đây là lời than vãn của Tổng Bí Thư đảng CSVN Nguyễn Phú Trọng tại “Hội nghị tổng kết công tác tổ chức xây dựng đảng” hôm Thứ Sáu, 19 Tháng Giêng, khi ông muốn “chống chạy chức, chạy quyền” phổ biến trong guồng máy cai trị của chế độ.

“Công tác cán bộ còn nhiều khe hở, lỗ hổng, tồn tại nhiều hạn chế, yếu kém, chưa có cơ chế để kiểm soát quyền lực, chống chạy chức, chạy quyền một cách hiệu quả. Tại sao có hiện tượng đề bạt, cất nhắc nhiều người nhà, người thân quen mặc dù không đủ tiêu chuẩn? Vì sao cứ nói bổ nhiệm đúng quy trình nhưng kết quả thực tế bố trí cán bộ lại là sai?… Vậy vai trò, trách nhiệm và sự đóng góp của ngành tổ chức xây dựng đảng trong việc này thế nào?” báo Thời Báo Kinh Tế Việt Nam dẫn lời ông Nguyễn Phú Trọng nói trong hội nghị.

Thông Tấn Xã Việt Nam thuật lời ông Trọng nhắc nhở việc cắt cử cán bộ “có bản lĩnh chính trị vững vàng, dám hy sinh vì lợi ích chung, có đạo đức cách mạng trong sáng, gương mẫu; tinh thông nghiệp vụ, phương pháp công tác khoa học, nói đi đôi với làm. Đặc biệt là phải hết sức công tâm, trong sáng, khách quan, tận tụy với công việc; không chịu bất cứ sức ép, sự tác động không lành mạnh nào; phải có dũng khí, dám thẳng thắn bảo vệ cái đúng, kiên quyết can ngăn những việc làm không đúng, chống cho được tệ bè phái, cục bộ, cá nhân chủ nghĩa, lợi ích nhóm trong công tác cán bộ và cũng không để bị lợi ích nào cám dỗ, không để bị chi phối bởi quan hệ cá nhân, thân quen không trong sáng. Kiên quyết chống tham nhũng trong công tác cán bộ.”
Những gì ông Trọng “chỉ đạo” cũng chỉ là lặp lại những gì từng được các kẻ trước ông lặp đi lặp lại suốt nhiều năm qua chứ chẳng có gì mới. Từ trên xuống dưới, các quy định của đảng CSVN, các luật lệ, pháp lệnh, nghị định đầy rẫy những rào cản nhưng chẳng có tác dụng ngân chặn được nạn “chạy chức, chạy quyền” trong chế độ.

Những năm gần đây, người ta thấy rộ lên những thông tin “cả họ làm quan ở một huyện, cha bổ nhiệm con, chồng bổ nhiệm vợ, anh em bổ nhiệm cho nhau, vào những chức vụ trong một cơ quan hoặc một ngành để lũng đoạn. Tất cả các sự việc được biện minh là “đúng quy trình,” tức đúng các quy định của luật lệ nhà nước.

Tám năm trước, báo VietNamNet ngày 29 Tháng Mười, 2010, thuật lời đại biểu Quốc Hội Lê Văn Cuông kêu ca nạn “chạy chức, chạy quyền” trong guồng máy cai trị độc tài đảng trị tại Việt Nam là “đấu thầu” cán bộ chứ không chỉ là “chạy” nữa.

Nạn mua quan bán tước đã trở nên phổ biến thế nào ông Cuông mới kêu ca như thế. Nay ông Nguyễn Phú Trọng và chế độ “dân chủ đến thế là cùng” của ông vẫn đối diện với cùng một vấn nạn.

Từ nhiều năm trước, người ta đã thấy truyền tụng câu vè “Thứ nhất quan hệ. Thứ nhì tiền tệ. Thứ ba hậu duệ. Thứ tư trí tuệ.” Nhưng tùy từng trường hợp được cắt cử, người ta lại thấy “Thứ nhất tiền tệ. Thứ nhì hậu duệ. Thứ ba đồ đệ. Thứ tư trí tuệ.” Hoặc là “Thứ nhất hậu duệ. Thứ nhì quan hệ. Thứ ba tiền tệ. Thứ tư trí tuệ.”

Trong tất cả các trường hợp, “trí tuệ” được xếp hạng chót trong thứ tự ưu tiên được đề bạt, cất nhắc trong guồng máy cai trị CSVN. Cái ghế ngồi đẻ ra quyền lực, quyền lực đẻ ra tiền nhiều ngập mặt nên nạn mua quan bán tước trở thành cái chợ ngầm sôi sục không lúc nào ngừng nghỉ.

Các “cơ chế” của chế độ đã giúp cơ hội cho các đảng viên cơ hội “Cố ý làm trái…” mà những kẻ bị bắt bỏ tù chỉ là phần nổi của tảng băng sơn khổng lồ. Tháng Giêng, 2017, tổ hức Minh Bạch Quốc Tế công bố bảng xếp hạng chỉ số tham những trên thế giới, Việt Nam nằm ở hạng 113 trên tổng số 176 nước được khảo sát.

Ông Trọng muốn “nhốt quyền lực” vào một cái lồng gọi là “cơ chế kiểm soát” hiện người ta chưa biết là gì và hiệu quả ra sao khi ba ngành hành pháp, lập pháp và tư pháp vẫn chỉ là một trong tay đảng. Hiện người ta mới chỉ thấy “Ban Tổ Chức Trung Ương” đảng CSVN “lấy ý kiến về dự thảo kiểm soát quyền lực.” (TN)


Người Việt

Những điều chua chát


Đinh la Thặng Hình minh họa

Bạn không cần phải học quá nhiều nhưng vẫn đầy hứa hẹn ở phía trước về một tương lai ổn định và sáng lạn với một công việc nhàn hạ, ăn lương và hưởng bổng lộc đến suốt đời.

Một nền giáo dục đã tồi tệ, nhưng những cán bộ, công chức còn không cả có nổi một tấm bằng phổ cập về giáo dục đối với chính nền giáo dục yếu kém của quốc gia đó, ở mức mặt bằng phổ thông mà bắt buộc một người phải có, lại có thể ngồi vào đội ngũ quản lý và điều hành trong bộ máy công quyền.

Những người dân được phục vụ và lãnh đạo bởi những con người và lực lượng như thế này mà vẫn có thể vui thú điền viên và chú tâm làm ăn, sinh sống rồi truyền dạy thế hệ sau lại tiếp tục sống thụ động, bất định hướng và không màng đến sự đòi hỏi mưu cầu về một xã hội văn minh, phát triển cũng như trên một nền tảng cao hơn, an toàn hơn.

Bằng cấp không phải tất cả, nhưng không thể có những điều cơ bản tối thiểu nhất về mặt nhận thức, trình độ, lại là một vấn đề nghiêm trọng trong việc sử dụng nhân sự trong hệ thống chính quyền để vận hành đất nước và phục vụ nhân dân. Hay họ chỉ cần đủ thấm nhuần và kiên trung với tư tưởng của tổ chức họ tham gia vào, có lợi ích thân hữu (huyết thống, họ hàng, tiền bạc, ràng buộc chéo về công tác nhân sự) là đủ phẩm chất tinh tuý mà cốt yếu nhất để có thể đứng vào hàng ngũ những người quản lý trong bộ máy quyền lực nhà nước?

Chẳng lẽ chúng ta cứ mãi phải chấp nhận và chứng kiến những cảnh quan chức, cán bộ dùng bằng giả để tiến thân và leo cao, đông đảo số khác không có bằng cấp mà vẫn ung dung an vị đến hết đời, trong khi hàng ngàn vạn người phải ly hương đi mưu sinh hoặc tìm kiếm cơ hội cống hiến ở nước ngoài?

Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nhưng nguyên khí ấy đang ngày càng mai một và suy yếu vì những kẻ không ra gì, về cả năng lực chuyên môn đến phẩm chất làm người, lại đang áp đảo và chiếm vị thế cao, thậm chí khuynh loát được hệ thống, xã hội và đất nước.


LS. Lê Luân
FB Luân Lê

Bộ trưởng quốc phòng Nga và Mỹ đến Việt Nam


Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ Jim Mattis. (Hình: pbs.org)

Bộ Trưởng Quốc Phòng Nga Sergei Shoigu và Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ Jim Mattis sẽ đến Việt Nam vào tuần tới theo thông tin một số báo trong nước hôm Thứ Sáu, 19 Tháng Giêng.

Chưa thấy Bộ Quốc Phòng hay Bộ Ngoại Giao CSVN đưa tin nhưng báo VNExpress dựa vào tin của Cục Tuyên Huấn, Bộ Quốc Phòng CSVN, cho biết “Bộ Quốc Phòng Việt Nam sẽ đón hai đoàn khách quốc tế. Đó là Bộ Trưởng Quốc Phòng Nga Sergei Shoigu thăm Việt Nam trong hai ngày, từ 23 đến 24 Tháng Giêng; Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ James Mattis cũng thăm Việt Nam trong ba ngày từ 24 đến 26 Tháng Giêng.”

Bộ Trưởng Quốc Phòng CSVN, Đại Tướng Ngô Xuân Lịch “sẽ chủ trì lễ đón Bộ Trưởng Quốc Phòng Nga Sergei vào ngày 23 và đón Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ Jim Mattis vào ngày 25 Tháng Giêng tại trụ sở Bộ Quốc Phòng,” VNExpress viết.

CSVN có mối quan hệ truyền thống chặt chẽ với Nga từ thời còn là một chư hầu của Liên Xô và nay là một trong những khách hàng chính yếu mua trang bị quốc phòng do Nga sản xuất. Mối quan hệ giữa hai kẻ cựu thù CSVN-Mỹ ngày một ấm dần lên trước những hành động bá quyền bành trướng của Trung Quốc trên Biển Đông.

Các hãng thông tấn quốc tế đưa tin Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ Jim Mattis dự trù thăm Trung Quốc trong mùa Xuân này. Hiện chưa thấy Ngũ Giác Đài có tin tức chính thức được loan báo về chuyến đi của ông Mattis cũng như các nội dung được ông thảo luận với Bắc Kinh. Cho nên, chuyến đi của ông có diễn ra trước hay sau khi đến Việt Nam hoặc vào một dịp khác hiện vẫn còn là dấu hỏi.

Bộ Trưởng Quốc Phòng Nga Sergei Shoigu. (Hình: etleboro.org)

Bộ Trưởng Quốc Phòng CSVN Ngô Xuân Lịch đến Moscow hồi năm 2016. Dịp này, Bộ Trưởng Quốc Phòng Nga Sergei Shoigu từng phát biểu rằng Nga coi Việt Nam là một đồng minh chiến lược và đối tác hàng đầu về an ninh tại khu vực Châu Á-Thái Bình Dương.

Hầu hết các trang bị quân sự quốc phòng của CSVN từ tàu ngầm, máy bay chiến đấu, chiến hạm, xe tăng và các loại võ khí khác đều do Nga sản xuất. Một phần giá rẻ hơn võ khí phương Tây, phần khác được hưởng tín dụng ưu đãi hơn và quân đội CSVN cũng quen thuộc với các loại võ khí của Nga.

Có thể khi ông Sergei Shoigu đến Hà Nội cũng là lúc chiếc hộ tống hạm thứ tư lớp Gepard mà Nga đóng cho Việt Nam cũng về đến cảng Cam Ranh. Chuyến đi thăm của ông có thể liên quan đến các nhu cầu mua sắm quốc phòng của Việt Nam trong khi chính Tổng Thống Mỹ Donald Trump đã mời chào công khai tại Hà Nội hỏa tiễn, máy bay chiến đấu khi gặp Chủ Tịch Nước Trần Đại Quang hồi Tháng Mười Một, 2017.

Tháng Tám năm ngoái, Bộ Trưởng Ngô Xuân Lịch đã đến gặp Bộ Trưởng Jim Mattis tại Ngũ Giác Đài. Dịp này, Bộ Quốc Phòng Mỹ loan báo sẽ lập chương trình đưa hàng không mẫu hạm thăm Việt Nam “khi các điều kiện kỹ thuật cho phép.” Một số cơ quan truyền thông quốc tế bình luận đây là chỉ dấu mối quan hệ đối tác chiến lược toàn diện giữa Hà Nội và Washington tiến thêm một bước.

Sau những ngày căng thẳng giữa Việt Nam với Trung Quốc hồi Tháng Tư, 2017, vì Hà Nội bị Bắc Kinh đe dọa đánh chiếm các đảo mà Việt Nam đang trấn giữ tại Trường Sa nếu tiếp tục dò tìm dầu khí trong vùng biển có cái “lưỡi bò” chủ quyền vắt qua, Thủ Tướng CSVN Nguyễn Xuân Phúc đã đến Washington hồi Tháng Năm rồi ba tháng sau, ông Ngô Xuân Lịch đến Ngũ Giác Đài.

Tuần tới Bộ Trưởng Mattis đến Hà Nội có thể cho người ta rõ hơn về mối quan hệ anh ninh quốc phòng giữa hai nước tiến thêm những bước gì cụ thể.

Năm ngoái, Hoa Kỳ đã trao cho Cảnh Sát Biển Việt Nam sáu xuồng tuần tra cao tốc và một tàu tuần tra biển 3,500 tấn, chiếc tàu lớn nhất của lực lượng Cảnh Sát Biển Việt Nam. (TN)


Người Việt

Có thể chín người… một ý không?


Hình ảnh được cho là vé buổi biểu diễn của một đoàn Trung Quốc ở Hà Nội trùng vào dịp tưởng niệm hải chiến Hoàng Sa, 19/1/2018

Cuối cùng, Bộ Văn hóa – Thể thao – Du lịch đã quyết định hoãn buổi biểu diễn của Đoàn Nghệ thuật Nội Mông.

Nội Mông (Inner Mongolia) là một khu tự trị của Trung Quốc. Khu tự trị này tọa lạc ở phía Bắc Trung Quốc, từng là lãnh thổ của những quốc gia mà trong sử sách, cha ông người Việt gọi là Yên, Triệu, Tần, Hung Nô, Ngụy, Tề, Chu, Đột Quyết, Hồi Cốt, Khiết Đan, Liêu, Kim, Mông Cổ,… Nỗ lực vô hiệu hóa phát xít Nhật trong Thế chiến thứ hai đã tạo cơ hội cho Trung Quốc biến một phần lãnh thổ Mông Cổ trở thành Khu tự trị Nội Mông(diện tích lên tới 1,2 triệu cây số vuông).

Nhân dịp kỷ niệm 68 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Trung Quốc và Việt Nam, Đại sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam đã đề nghị Bộ Văn hóa – Thể thao – Du lịch Việt Nam hỗ trợ để giới thiệu Đoàn Nghệ thuật Nội Mông với dân chúng Việt Nam. Theo dự kiến, 28 nghệ sĩ của Đoàn Nghệ thuật Nội Mông sẽ biểu diễn buổi đầu tiên tại Nhà hát Lớn Hà Nội vào tối 19 tháng 1…


***

Có một chi tiết mà những viên chức hữu trách ở Bộ Văn hóa – Thể thao – Du lịch của nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam không để ý là “ngẫu nhiên” ngày biểu diễn của Đoàn Nghệ thuật Nội Mông (khu vực mà sau khi được đặt dưới sự kiểm soát của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, người Mông Cổ chỉ còn là sắc tộc không đáng kể) để kỷ niệm việc thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam với Trung Quốc lại… trùng với ngày Trung Quốc cưỡng đoạt toàn bộ quần đảo Hoàng Sa của người Việt.

Chẳng có bằng chứng nào cho thấy rằng sự trùng hợp này là… cố ý.

Trước giờ, cách hành xử của chính quyền Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chứng minh, với các viên chức hữu trách, ngày 19 tháng 1 hàng năm chẳng có gì đáng phải bận tâm. Thậm chí cách nay vài năm, những hoạt động nhằm nhắc nhở người Việt rằng, ngày đó Việt Nam mất một phần lãnh thổ và nếu không cảnh giác, có thể mất luôn đường ra biển, ngày đó có 74 người Việt tuẫn tiết vì nỗ lực bảo toàn lãnh thổ, bảo vệ chủ quyền quốc gia ở quần đảo Hoàng Sa,… còn bị coi là… phản động nên người tham gia nhắc nhở, tưởng niệm bị rủa xả không tiếc lời, bị đánh vào đầu, bị đạp vào mắt, bị bắt như bắt con vật, không chừa ai! Cũng cách nay vài năm, chỉ vì ọ ẹ về Hoàng Sa, Trường Sa về quan hệ Việt - Trung, ông Tống Văn Công, cựu Tổng biên tập tờ Lao Động bị hệ thống Đảng cơ sở lôi ra kiểm điểm. Tại một buổi kiểm điểm do Đảng ủy phường Tân Kiểng, quận 7 tổ chức, ông Công đã bị một Bí thư chi bộ nơi ông sinh hoạt Đảng chỉ trích kịch liệt vì: “Hoàng Sa, Trường Sa là bãi hoang chim ỉa. Ta nói của ta. Trung Quốc nói của Trung Quốc”, cứ khăng khăng Hoàng Sa, Trường Sa thuộc về Việt Nam là “gây chia rẽ hai Đảng và hai nước xã hội chủ nghĩa anh em”.

Khi nhận thức, tâm thế của nhiều cán bộ, đảng viên, đặc biệt là những cán bộ, đảng viên hữu trách chỉ là như vậy thì gật đầu, sắp xếp cho Đoàn Nghệ thuật Nội Mông biểu diễn tại Nhà hát Lớn Hà Nội ngay vào ngày 19 tháng 1 chẳng có gì khó hiểu.

Tuy nhiên khác hẳn với trước đây, dân chúng Việt Nam không nín nữa. Trên mạng xã hội, sự kiện này bị xem là ấu trĩ, nhục nhã, thêm một bằng chứng cho chuyện “mãi quốc cầu vinh”, chính quyền bị nguyền rủa… Có facebooker như Tung Dang chia sẻ số điện thoại di động của Bộ trưởng Văn hóa – Thể thao – Du lịch, đề nghị mọi người tham gia chất vấn, phản đối. Ở diễn đàn “Góc nhìn Báo chí – Công dân”, Tony Bui thì đề nghị biểu tình bên ngoài Nhà hát Lớn Hà Nội, vừa phản đối, vừa đòi Trung Quốc trả Nội Mông cho Mông Cổ

Sáng 19 tháng 1, công văn do Ban Quản lý Nhà hát Lớn Hà Nội gửi Văn phòng và Cục Hợp tác quốc tế của Bộ Văn hóa - Thể thao - Du lịch được bày ra trên mạng như phát đại trà thuốc hạ nhiệt. Theo công văn này thì Ban Quản lý Nhà hát Lớn Hà Nội vừa phát hiện “hệ thống máy cắt liên lạc của điện nguồn hoạt động không ổn định, do đó không thể đáp ứng cho yêu cầu kỹ thuật trong buổi biểu diễn của Đoàn Nghệ thuật Nội Mông”. Sau đó, Chánh văn phòng kiêm Phát ngôn viên của Bộ Văn hóa - Thể thao – Du du lịch, chính thức công bố với báo giới về sự kiện hoãn buổi biểu diễn của Đoàn Nghệ thuật Nội Mông, dự kiến khai mạc lúc 20 giờ tối 19 tháng 1 vì Nhà hát Lớn Hà Nội đang có “sự cố kỹ thuật”.

Tuy buổi biểu diễn của Đoàn Nghệ thuật Nội Mông đã bị hoãn nhưng dường như công chúng vẫn chưa hài lòng về lý do. Trong khi Le Duc Duc gọi “sự cố kỹ thuật” là “rất mực lâm ly” thì Phan Hải Bằng cho rằng dù sao, cũng còn chút liêm sỉ. Bao Trung Nguyen không tán thành, bởi “bày ra đã nhục, dẹp bằng ‘mẹo vặt’ còn nhục hơn. Cũng đã có những facebooker như Tran Thanh HP nêu thắc mắc với bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt, Giám đốc Ban Quản lý Nhà hát lớn Hà Nội, nếu có thiện ý, sao bà không chờ đến 19 giờ 45 phút ngày 19 tháng 1 năm 2018 hãy… báo cáo cấp trên về “sự cố kỹ thuật”?


***


Chẳng phải tự nhiên mà cổ nhân khái quát “chín người, mười ý”. Chưa rõ Thủ tướng Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam có tính sổ với những viên chức hữu trách ở Bộ Văn hóa – Thể thao – Du lịch khi họ đưa hệ thống công quyền vào thế làm thì dở mà ngừng cũng chẳng yên với dân hay không, song ít nhất sự kiện vừa kể đặt ra một câu hỏi khác: Có cách nào hóa giải để chuyện hoãn buổi biểu diễn của Đoàn Nghệ thuật Nội Mông vào tối 19 tháng 1 ở Nhà hát Lớn Hà Nội thành “chín người, một ý” hay không?

Nếu buổi biểu diễn của Đoàn Nghệ thuật Nội Mông vào tối 19 tháng 1 ở Nhà hát Lớn Hà Nội không bị hoãn vì “sự cố kỹ thuật” mà bị hoãn vì Bộ Văn hóa – Thể thao – Du lịch đưa ra tuyên bố, đại ý: Khi thảo luận với Đại sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam về việc tổ chức các hoạt động kỷ niệm 68 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Trung Quốc và Việt Nam, những viên chức hữu trách của Bộ Văn hóa – Thể thao – Du lịch không nhớ sự kiện 19 tháng 1 năm 1974 – nay dựa trên dân ý, chúng tôi quyết định hoãn buổi biểu diễn đó, đồng thời tái khẳng định, quần đảo Hoàng Sa là của Việt Nam… thì có bị công chúng dè bỉu không? Hiệu quả của một tuyên bố như vậy cả về đối nội lẫn đối ngoại có tốt hơn những tuyên bố của các thế hệ Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao hay không?

Các bạn nghĩ sao?


Trân Văn
Blog VOA

Gian lận thương mại để được ‘kinh tế thị trường’?


Sản phẩm beer Sài Gòn của Sabeco.

Không phải chuyện nhỏ


Chỉ một tháng sau việc bất thần tung ra biện pháp trừng phạt đánh thuế “thép Việt Nam có nguồn gốc Trung Quốc” lên đến 531%, Hoa Kỳ đã khiến giới chức thương mại Việt Nam” chịu sốc thêm một lần nữa khi thông báo với Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) về 8 công ty mà lẽ ra Việt Nam phải đăng ký là “doanh nghiệp nhà nước” theo quy tắc thương mại toàn cầu.

Tám công ty mà Mỹ khai báo với WTO đều là những cái tên nổi đình nổi đám ở Việt Nam: Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (PVN) và công ty con là Tổng công ty Dầu Việt Nam (PV Oil), Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex), Công ty Xăng dầu Hàng không Việt Nam (Vinapco/SKYPEC), Tổng công ty Lương thực miền Bắc và Tổng công ty Lương thực miền Nam (Vinafood I và Vinafood II), Công ty Vàng Bạc Đá Quý Sài Gòn (SJC) và Tập đoàn Công nghiệp Than và Khoáng sản Việt Nam (Vinacomin).

Thoạt nhìn, sự kiện trên có vẻ không mấy bất thường trong quan hệ các thỏa thuận giao thương đa phương quốc tế. Tuy nhiên xét về chiều sâu quan hệ thương mại song phương giữa Mỹ và Việt Nam cũng như quan hệ thương mại đa phương giữa Việt Nam với nhiều quốc gia, sự kiện này không chỉ mang tính cảnh báo hay như một động tác trừng phạt mới về thương mại của Mỹ đối với Việt Nam, mà còn có thể khiến Việt Nam bị không ít quốc gia quay lưng vì thói “gian lận thương mại” đã và đang hiển lộ một cách có hệ thống.

“Gian lận thương mại” như thế nào?


Quốc nạn độc quyền nhà nước


Toàn bộ 8 doanh nghiệp Việt Nam mà Mỹ “tố” với WTO đều là doanh nghiệp nhà nước và do Chính phủ Việt Nam sở hữu trên 50% cổ phần. Trong quan hệ làm ăn ở Việt Nam, các doanh nghiệp này vẫn thường rất tự hào với mác “quốc doanh” của họ. Không những thế, một số trong các doanh nghiệp nhà nước này đã từ quá lâu nay được hưởng thế độc quyền kinh doanh và do đó luôn tạo áp lực đáng kể đối với người tiêu dùng và xã hội về giá cả theo lối “một mình một chợ”.

Hai tiêu biểu về thế độc quyền như trên là Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam và Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam. Bất kể nền kinh tế Việt đã lao vào năm suy thoái thứ 10 liên tiếp kể từ năm 2018 và đời sống người lao động Việt ngày càng phải thắt lưng buộc bụng trước gánh nặng tróc thuế lẫn tham nhũng hoành hành, quốc nạn độc quền vẫn “bóc lột dân ta đến tận xương tủy”.

Một thực tồn khốn quẫn mà thế giới nếu chưa biết thì hãy cần biết là nạn độc quyền ở Việt Nam đã bất chấp từ lâu phát sinh nhiều phản ứng xã hội đòi hỏi chính phủ Việt Nam phải xóa bỏ vai trò độc quyền của các doanh nghiệp nhà nước trên, trả kinh doanh về môi trường cạnh tranh lành mạnh và công bằng, cũng bất chấp những yêu cầu liên tục từ WTO và Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) về việc Việt Nam phải thỏa mãn được các tiêu chí tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa doanh nghiệp tư nhân với doanh nghiệp nhà nước, minh bạch hóa hoạt động tài chính của doanh nghiệp nhà nước và phải chống tham nhũng có hiệu quả thì mới đủ điều kiện để quốc tế công nhận Việt Nam là “kinh tế thị trường”.

Độc quyền đến mức vào năm 2017, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam đã trở thành một thứ đại án về nạn tham nhũng và thất thoát tài sản ghê gớm.


Hậu quả nào cho “giấu gốc nhà nước”?


Cần nhắc lại, liên quan vụ thép Trung Quốc, Hoa Kỳ đã áp thuế chống bán phá giá và chống trợ cấp đối với thép Trung Quốc hồi năm 2015 và 2016. Ngay sau đó, thép được nhập dồn dập vào Hoa Kỳ từ nhiều ngả khác nhau. Các nhà sản xuất thép của Mỹ phát hiện ra sản phẩm của Trung Quốc được chuyển sang các nước thứ ba để lách thuế nên đã khiếu nại lên cơ quan hữu trách Hoa Kỳ.

Trong vụ tung ra biện pháp trừng phạt đánh thuế “thép Việt Nam có nguồn gốc Trung Quốc” vào tháng 12/ 2017, Bộ Thương mại Hoa Kỳ đã xác định rằng có đến 90% sản phẩm thép từ Việt Nam nhập sang Mỹ có xuất xứ từ Trung Quốc. Chỉ tính riêng Việt Nam, mặt hàng thép cuộn lạnh nhập vào Mỹ năm 2015 đã tăng vọt, từ 11 triệu đôla lên tới 295 triệu đôla. Biện pháp trừng phạt này chắc chắn sẽ có tác động tiêu cực lên toàn bộ ngành thép Việt Nam, trong đó có nhiều sản phẩm thép do chính Việt Nam sản xuất.

Ngay trước mắt, vụ việc 8 doanh nghiệp nhà nước của Việt Nam bị phía Hoa Kỳ cáo buộc lên WTO chắc chắn sẽ có ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động xuất, nhập khẩu của các doanh nghiệp này, bởi cả 8 doanh nghiệp nhà nước này đều tham gia hoạt động kinh doanh xuất, nhập khẩu.

Trong trường hợp nếu Việt Nam không đưa ra được các chứng cứ có tính thuyết phục để bác bỏ cáo buộc từ phía Hoa Kỳ, mà điều này thì quá khó, rất có thể việc xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ - thị trường đang giúp cho Việt Nam xuất siêu đến gần 30 tỷ USD/năm - sẽ giảm sút. Và sau đó, các nước phát triển có thể sẽ ủng hộ quan điểm của Hoa Kỳ, dẫn đến khối lượng hàng hóa xuất khẩu của 8 doanh nghiệp nhà nước trên sẽ giảm sút, thậm chí các doanh nghiệp khác ngoài 8 doanh nghiệp nhà nước bị cáo buộc xuất khẩu sang các thị trường nước ngoài cũng có thể gặp khó khăn.


Vì sao Việt Nam quá cần “kinh tế thị trường”?


Vụ việc 8 doanh nghiệp nhà nước của Việt Nam cố che giấu nguồn gốc nhà nước không ngoài mục tiêu được lọt vào tiêu chuẩn ưu ái về thuế xuất nhập khẩu của quy chế “kinh tế thị trường”.

Trong thực tế, “kinh tế thị trường” rất quan yếu đối với các nhu cầu vay tín dụng, nhận đầu tư trực tiếp nước ngoài và hưởng ưu đãi trong hoạt động xuất nhập khẩu quốc tế của Việt Nam. Nếu được công nhận “kinh tế thị trường”, hàng Việt Nam xuất khẩu sang nhiều quốc gia sẽ được hưởng mức thuế suất nhẹ nhàng hơn nhiều so với hiện thời, do đó mang lại lợi ích cho các danh nghiệp nhà nước, nhất là những doanh ngiệp độc quyền nhà nước, bổ trợ cho chân trụ của khối “còn đảng còn mình” hãm bớt đà rệ rã hiện thời và củng cố thêm hy vọng cho đảng “thở được ngày nào hay ngày nấy”.

Nếu được công nhận “kinh tế thị trường”, Việt Nam sẽ được các tổ chức tín dụng lớn nhất như Ngân hàng thế giới, Quỹ tiền tệ quốc tế, Ngân hàng Phát triển Á Châu cho vay tín dụng với những điều kiện ưu đãi hơn là cơ chế mặt bằng lãi suất tăng gấp ba và thời gian ân hạn giảm xuống một nửa như hiện nay. Điều này sẽ đặc biệt có ý nghĩa trong bối cảnh cả đảng lẫn cầm quyền ở Việt Nam đang phải bán đi những doanh nghiệp cuối cùng thuộc loại “bò sữa” - như Sabeco (Tổng công ty Rượu - Bia - Nước giải hát) và Vinamilk (Tổng công ty Sữa Việt Nam) - để có thêm tiền đắp đổi cho một ngân sách hụt thu nghiêm trọng và đang hiện ra nhiều dấu hiệu cạn kiệt và trống rỗng.

Từ năm 2013 đến nay, những chuyến đi Mỹ của các nhân vật như ông Trương Tấn Sang - khi đó còn là chủ tịch nước, ông Nguyễn Tấn Dũng - khi đó còn là thủ tướng, ông Nguyễn Xuân Phúc - thủ tướng đương nhiệm, vẫn một mực đề nghị “Mỹ sớm công nhận nền kinh tế thị trường của Việt Nam”. Nhưng không hề có tính từ “xã hội chủ nghĩa” gắn kèm cửa miệng.

Đó là thói khôn vặt của giới chính khách Việt! Khi cần tỏ ra kiên định thì luôn “chua” tính từ trên vào bất cứ khẩu hiệu nào. Nhưng để đối ngoại thì lại giấu kín vào túi quần. Hành vi 8 doanh nghiệp Việt Nam giấu kín gốc gác “nhà nước” của họ là một minh chứng về thói biển lận đó.

Rốt cuộc, quốc tế đã không còn kiên nhẫn nổi với thói lập lờ về mặt khái niệm trong lúc không có bất kỳ cải cách nào của Việt Nam. Vào tháng 5/2017, Bộ trưởng Bộ Thương Mại Mỹ Wilbur Ross đã phải nhắc lại “Khởi động lại cơ chế trao đổi về quy chế thị trường cho Việt Nam” khi gặp Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc tại Washington.


“Đảng ngáng chân chính phủ” và tính quả báo


Nhưng cũng vào tháng 5/2017, đã xảy đến hiện tượng “đảng ngáng chân chính phủ”. Cho dù Thủ tướng Phúc - với đức tính thực dụng về các giá trị buôn bán - có thực lòng muốn đạt được quy chế “kinh tế thị trường” chăng nữa, “Nghị quyết trung ương 5 về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” do cấp trên của ông Phúc là Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng kiên định lặp lại tại Hội nghị trung ương 5, đã khiến ông Phúc không biết ăn nói ra sao với quốc tế về sự khác biệt một trời một vực giữa “kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa” và “kinh tế thị trường”, chưa kể việc làm sao để đạt được “kinh tế thị trường” đó.

Trong thực tế ở Việt Nam, sẽ rõ nhất nếu đối chiếu giữa khối doanh nghiệp nhà nước và khối doanh nghiệp tư nhân. Khối doanh nghiệp nhà nước chiếm tới 2/3 tổng tài sản, 60% nguồn vốn tín dụng, 70% nguồn vốn ODA và được ưu đãi rất lớn về khả năng tiếp cận tín dụng và những điều kiện về chính sách, nhưng lại hoạt động quá tệ. Ít nhất 30% doanh nghiệp nhà nước bị lỗ và khối này chỉ đóng góp được khoảng 1/3 tổng sản phẩm xã hội. Gần như ngược lại, khối doanh nghiệp tư nhân chỉ chiếm 1/3 tài sản, chẳng mấy được ưu đãi về tín dụng và chỉ có thể “hớt cặn” vốn ODA, lại còn bị phân biệt đối xử đủ đường, nhưng lại tạo ra đến 2/3 tổng sản phẩm xã hội.

Nhưng đến năm 2017, khi hơi thở khủng hoảng toàn diện đang phả hầm hập vào gáy chế độ, nghị quyết “hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” vẫn khư khư ôm ấp doanh nghiệp nhà nước cùng vai trò chủ đạo của nó, trong lúc chỉ hé miệng đôi chút về “kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng.”

Đến lúc này, ngay cả những tờ báo tỏ ra chuyên chính nhất như Nhân Dân, Quân Đội Nhân Dân cũng không còn quá mặn mà với điệp khúc “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.”

Giờ đây luật “nhân quả” đã báo ứng. 8 doanh nghiệp mang trên mình gốc gác nhà nước và thói độc quyền “thu cùng diệt tận” đối với dân chúng Việt Nam đang phải đưa đầu nhận lãnh hậu quả quay lưng từ Mỹ và cộng đồng quốc tế. Tiếp sau đó, rất có thể sẽ xuất hiện thêm những cái tên doanh nghiệp nhà nước khác bị quốc tế xếp vào danh mục “gian lận thương mại”.


Phạm Chí Dũng
Blog VOA