Người Đưa Tin
Tin Tức Cập Nhật 24/7

"Các án tù càng nặng thì người dân xem đó là sự giễu cợt của chế độ"


Hai cháu nội của ông Lê Đình Lượng.


Nhấp vào nút play (►) dưới đây để nghe
Bản án 20 năm tù giam và 5 năm quản chế đối với nhà hoạt động dân chủ và môi trường Lê Đình Lượng khiến công luận sửng sốt. Hòa Ái ghi nhận ý kiến của giới đấu tranh dân chủ tại Việt Nam xoay quanh bản án được cho là nặng nhất đối với cáo buộc tội “lật đổ chính quyền nhân dân” trong 3 thập niên qua.

Bản án “độc ác và tàn bạo”

Mạng xã hội tại Việt Nam, vào ngày 16 tháng 8 năm 2018, tràn ngập các dòng trạng thái đầy phẫn nộ, phản đối bản án 20 năm tù giam và 5 năm quản chế đối với cựu chiến binh Lê Đình Lượng mà Tòa án tỉnh Nghệ An vừa tuyên trong cùng ngày.

Anh Chu Mạnh Sơn, một cư dân mạng, ở Nghệ An, vào tối ngày 16 tháng 8, nói với Đài Á Châu Tự Do:

“Người dân ở khu vực nhà chú Lượng cũng như những người có theo dõi phiên tòa thì họ cho rằng đây là một phiên tòa rất bất công và đó là một bản án quá tàn khốc đối với chú Lượng và người ta thật sự sốc khi thấy một bản án 20 năm dành cho chú Lượng như vậy.”

Không chỉ người dân ở địa phương của ông Lê Đình Lượng mà cộng đồng cư dân mạng chỉ trích mạnh mẽ bản án mà theo họ là bất công và phi lý khi mà những việc làm của ông xuất phát từ tấm lòng của một người lính yêu nước và cống hiến không mệt mỏi cho xã hội qua việc đấu tranh chống nạn lạm quyền của cán bộ không cấp giấy khai sinh cho những hộ sinh con thứ ba và chống lại nạn lạm thu học phí để học sinh tiểu học được đến trường đầy đủ, hay đồng hành cùng các nạn nhân khiếu kiện đòi bồi thường thỏa đáng trong thảm họa môi trường biển Formosa, xảy ra tại khu vực 4 tỉnh Bắc Trung Bộ hồi tháng 4 năm 2016.

...Đây là một phiên tòa rất bất công và đó là một bản án quá tàn khốc...

-Chu Mạnh Sơn
Cựu tù nhân lương tâm-Luật sư Lê Quốc Quân, cũng là cháu của ông Lê Đình Lượng nói với RFA thay vì Chính quyền Nghệ An phải khen tặng những việc làm đóng góp cho xã hội của ông Lê Đình Lượng, mà trái lại đã tuyên một bản án phi lý vì hai nhân chứng tại tòa đã phản cung, tố cáo bị đánh đập và ép cung để đưa ra lời khai cáo buộc ông Lê Đình Lượng hoạt động lật đổ chính quyền.

Truyền thông tỉnh Nghệ An loan tin ông Lê Đình Lượng là thành viên của Đảng Việt Tân, một đảng khủng bố và Tòa án Tỉnh Nghệ An tuyên bản án lên đến 20 năm tù giam với tội danh “hoạt đồng nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”, bất chấp lời kêu gọi của các tổ chức nhân quyền thế giới là ông Lê Đình Lượng vô tội và Chính phủ Hà Nội phải trả tự do ngay lập tức cho ông.

Luật sư Lê Công Định lên tiếng với RFA rằng bộ máy tuyên truyền của Việt Nam áp đặt khái niệm Việt Tân là một tổ chức khủng bố, cho nên bất kỳ ai liên quan đến Việt Tân thì mặc nhiên bị cho là ‘hoạt động nhằm lật đổ chính quyền’. Luật sư Lê Công Định nhấn mạnh Tòa án Nghệ An đã vi phạm pháp luật một cách nghiêm trọng, do thiếu cơ sở pháp lý khi tuyên bản án tù 20 năm đối với ông Lê Đình Lượng mà ông đã giữ quyền im lặng của mình trong suốt thời gian điều tra cũng như tòa án hoàn toàn không trưng ra được các chứng cứ nào cho thấy ông Lượng được kết nạp vào Việt Tân và hoạt động như thế nào.

Luật sư Lê Công Định nhận định mục đích duy nhất của vụ án ông Lê Đình Lượng là Chính quyền tỉnh Nghệ An muốn gửi một thông điệp răn đe đối với những người đấu tranh dân chủ, đặc biệt ở Nghệ An, là nơi mà chính quyền cáo buộc mạng lưới của Việt Tân hoạt động rộng rãi rằng không tham gia vào Đảng Việt Tân.

Tiếp tục mạnh tay đàn áp

Luật sư Nguyễn Văn Đài, một cựu tù nhân lương tâm, bị kết án 15 năm tù giam và 5 quản chế hồi đầu tháng 4 vừa qua, cùng tội danh với ông Lê Đình Lượng, vừa bị Chính phủ Hà Nội trục xuất sang Đức vào đầu tháng 6, cho RFA biết qua sự theo dõi của ông thì bản án 20 năm tù giam đối với các tội về hoạt động chính trị là cao nhất trong vòng 30 năm qua. Luật sư Nguyễn Văn Đài cho rằng bản án mà Tòa án Nghệ An tuyên cho nhà hoạt động dân chủ Lê Đình Lượng là một bản án hết sức độc ác và tàn bạo.

Nhà hoạt động dân chủ Lê Đình Lượng. Courtesy of Facebook Lê Đình Hiếu
Trả lời câu hỏi của RFA rằng vì sao ông Lê Đình Lượng bị tuyên án với mức phạt cao nhất trong vòng 3 thập niên qua như vậy, Luật sư Nguyễn Văn Đài giải thích:

“Sau đợt đàn áp khốc liệt các blogger và các thành viên của Hội Anh Em Dân Chủ vừa qua thì phong trào đấu tranh cho tự do dân chủ ở trong nước vẫn từng bước phát triển rất mạnh, đặc biệt có thể thấy qua các cuộc biểu tình phản đối chính quyền hôm 10 tháng 6. Chính quyền Việt Nam rất lo sợ khi hoạt động chống đối không hề thuyên giảm, mặc dù họ đã nặng tay tuyên các bản án nặng nề đối với blogger và thành viên của Hội Anh Em Dân Chủ. Họ muốn dùng vụ án của ông Lê Đình Lượng để một lần nữa răn đe và khủng bố tinh thần đối với các nhà hoạt động khác.”

Bên cạnh đó, Luật sư Lê Công Định chia sẻ trên trang Facebook cá nhân rằng mức án 20 năm tù giam cho thấy nhà cầm quyền Việt Nam đang hoảng loạn trước cơn sóng ngầm của toàn dân. Luật sư Lê Công Định lý giải về chia sẻ của ông:

“Rõ ràng những bản án này không đe dọa được ai hết. Bởi vì đến một giai đoạn mà nhà cầm quyền không thể nào cai trị như trước đây được nữa và người dân đã bớt sợ hãi, cho nên những bản án càng nặng thì đối với dân chúng coi như là một sự giễu cợt của chế độ. Và chính những người dân, mà chúng ta có thể đọc được các ý kiến của họ qua mạng thì ai cũng thấy mức án 10 năm thôi, chứ đừng nói chi đến mức án 20 năm của anh Lê Đình Lượng là buồn cười rồi vì người ta nghĩ chế độ này liệu có tồn tại cho đến 5, 10 năm hay không mà tuyên các bản án lâu đến 10 hay 20 năm. Chính điều đó cho thấy người dân ngày càng ý thức được quyền của mình và họ tin rằng một khi họ sử dụng các quyền của mình thì chế độ này không thể tồn tại được, dù cho 2, 3 năm chứ đừng nói đến 5 hay 10 năm.”

Một ngày trước khi phiên tòa sơ thẩm xét xử nhà hoạt động dân chủ Lê Đình Lượng diễn ra, ca sĩ Nguyễn Tín và một số thính giả là những người trong giới đấu tranh dân chủ tại Việt Nam bị công an, an ninh hành hung tại chương trình nhạc với chủ đề “Sài Gòn Kỷ Niệm”, do ca sĩ Nguyễn Tín biểu diễn vào tối 15 tháng 8. Trước đó, vào sáng ngày 9 tháng 8, Nhà hoạt động vì nữ quyền Huỳnh Thục Vy cũng bị công an tạm giữ để điều tra.

Họ muốn dùng vụ án của ông Lê Đình Lượng để một lần nữa răn đe và khủng bố tinh thần đối với các nhà hoạt động khác.

-LS. Nguyễn Văn Đài
Qua trao đổi với chúng tôi, Luật sư Nguyễn Văn Đài khẳng định Chính quyền Hà Nội tiếp tục đàn áp giới đấu tranh dân chủ tại Việt Nam càng mạnh tay, tuy rằng ít nhiều tác động đến tâm lý của những nhà hoạt động ở trong nước, nhưng ông tin rằng với những điều mà Chính quyền Cộng sản Việt Nam đang thể hiện với người dân; đó là một chế độ tham nhũng, không còn năng lực để có thể bảo vệ người dân trong vấn đề sức khỏe, môi trường cũng như vấn đề chủ quyền quốc gia thì sự đấu tranh của người dân sẽ càng ngày càng mạnh mẽ hơn. Luật sư Nguyễn Văn Đài quả quyết:

“Cho dù nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam có tuyên bản án nào đi chăng nữa thì cũng không thể ngăn cản được cuộc đấu tranh hay tiến trình đấu tranh cho dân chủ tại Việt Nam.”

Chúng tôi xin được kết thúc bài ghi nhận này qua chia sẻ của cư dân mạng Nguyễn Xoan, con dâu của nhà hoạt động dân chủ Lê Đình Lượng rằng “Bố chồng của tôi là người dễ mủi lòng trước tiếng khóc của hai đứa cháu nội. Nhưng ông lại hiêng ngang, ngẩng mặt tự hào về những ‘Tội’ mà mình đã gây ra. 25 năm tù phải chăng là quãng đời còn lại của ông? Ông đã vui vẻ cười mãn nguyện dùng thời gian còn lại của cuộc đời để làm nền móng cho Việt Nam. Vậy thì tại sao chúng ta không xây dựng hòa bình trên nền móng ấy?”


Hòa Ái
RFA

Tranh cãi về bìa sách Lịch sử lớp 7: ‘Cần cái nhìn dung hoà và công bằng hơn’


Bìa sách Lịch sử lớp 7 hiện hành và nội dung bên trong


Nhấp vào nút play (►) dưới đây để nghe
‘Chuyện bình thường’

Những ngày qua, hình ảnh Vạn lý trường thành, một kỳ quan thế giới thuộc sở hữu của người Trung Hoa, xuất hiện trên bìa sách giáo khoa Lịch sử lớp 7 của Việt Nam khiến dư luận xôn xao và bất bình.

Có thể thấy ngay rằng, đây là một trong nhiều những sự việc với hình thức tương tự đã và đang diễn ra trong bối cảnh người dân trong nước kiên quyết chống đối những chính sách ngày càng gắn kết chặt chẽ với Trung Quốc của chính quyền Việt Nam.

Ví dụ như con đường Trần Phú, thành phố du lịch Nha Trang – Khánh Hoà tràn ngập các bảng hiệu ghi tiếng Trung Quốc. Rồi gần đây, cộng đồng mạng xã hội lại “sôi sục”, phẫn nộ khi hình ảnh chiếc vé tàu cao tốc Cát Linh – Hà Đông có in tiếng Trung Quốc.

Vì lẽ đó mà khi bìa sách giáo khoa Lịch sử lớp 7 của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam có in hình Khuê Văn Các của Việt Nam cùng Vạn Lý Trường Thành của Trung Quốc, trong nước đã làm bùng lên những chỉ trích giận dữ.

Lịch sử thì có cả lịch sử Việt Nam và lịch sử thế giới, cho nên có hình Vạn lý trường thành thì cũng là chuyện bình thường. Chỉ có điều lúc này dân mình quá tức những hành động và âm mưu của nhà cầm quyền Trung Quốc đối với nước ta cho nên vấn đề trở nên rất nhạy cảm. Những chi tiết như trên thì các nhà giáo dục, các cơ quan xã hội, công cũng như tư, nên cẩn trọng hơn.

- Thâm Giang Trần Gia Ninh
Các ý kiến bày tỏ trên mạng xã hội Facebook đa số đều cho rằng đó là một động thái chứng tỏ sự “thuần phục”.

Facebooker An Chau Nguyen viết rằng: “Giáo dục... nhồi sọ học sinh từ nhỏ: Văn Miếu gắn liền với Trường thành của Tàu (nguyên trên bìa sách ) là sao !?”

Facebooker Thanh Tam Tran cho biết: “Sách sử Việt Nam, ảnh bìa hình từ Tàu. Tư duy sáng tạo, của những người kiến tạo.”

Bên cạnh những chỉ trích, bất bình lan rộng trên mạng xã hội, RFA tìm hiểu ý kiến của những nhà nghiên cứu về lịch sử, giáo dục về những phê bình trên của dư luận. Một trong những người đó là tác giả Thâm Giang Trần Gia Ninh - Chủ tịch Hội đồng khoa học Viện Vật lý ứng dụng và thiết bị khoa học, Viện Hàn lâm Khoa học công nghiệp Việt Nam tại Hà Nội. Vì lý do sức khoẻ, ông chỉ có thể chia sẻ với RFA qua tin nhắn.

Trước tien ông cho biết quan điểm của mình về hình ảnh của bìa sách Lịch sử lớp 7 đang gây tranh cãi.

“Lịch sử thì có cả lịch sử Việt Nam và lịch sử thế giới, cho nên có hình Vạn lý trường thành thì cũng là chuyện bình thường. Chỉ có điều lúc này dân mình quá tức những hành động và âm mưu của nhà cầm quyền Trung Quốc đối với nước ta cho nên vấn đề trở nên rất nhạy cảm. Với những chi tiết như trên thì các nhà giáo dục, các cơ quan xã hội, công cũng như tư, nên cẩn trọng hơn.”

RFA
Theo tác giả Thâm Giang Trần Gia Ninh, một điều đáng lưu ý nữa, sách lịch sử này đã được in từ mấy năm trước nhưng không có ai lên tiếng. Nay, vì những lý do như ông đã nói, vấn đề được khơi gợi và trở thành lý do của sự bất bình trong công chúng.

Giáo sư Võ Tòng Xuân, một chuyên gia nông nghiệp, nguyên Hiệu trưởng trường Đại học Cần Thơ nhận xét sự việc dựa trên tương quan của một vấn đề gọi là “vấn đề Trung Quốc” hiện nay ở Việt Nam.

Ông cho biết xét theo bối cảnh tâm lý chung của người Việt lúc này, bất cứ điều gì, sự việc gì có liên quan đến Trung Quốc đều dễ dàng gây ra những bất bình và tâm lý không thiện cảm.

“Hình Vạn lý trường thành thì có gì đâu mà mình phải thấy nó là 1 điều không hay? Nó là 1 kỳ quan của thế giới. Mình phải thấy nó rất vĩ đại, thật sự. Không phải đưa lên là mình nói theo Trung Quốc hay gì cả. Rất đáng để học sinh của biết về thế giới xung quanh mình.

Cái gì cũng Việt Nam hết thì làm sao học sinh chúng ta biết có một nhân sinh quan của thế giới?”


Hình Vạn lý trường thành thì có gì đâu mà mình phải thấy nó là 1 điều không hay? Nó là 1 kỳ quan của thế giới. Mình phải thấy nó rất vĩ đại, thật sự. Không phải đưa lên là mình nói theo Trung Quốc hay gì cả. Rất đáng để học sinh của biết về thế giới xung quanh mình.

- GS Võ Tòng Xuân
Chính trên mạng xã hội cũng không ít người có đồng quan điểm với Giáo sư Võ Tòng Xuân, khi cho rằng hình ảnh này hoàn toàn bình thường, không có gì đáng bàn cãi bởi đây là một công trình tiêu biểu của nhân loại, là một phần trong tiến trình lịch sử thế giới.

Truyền thông trong nước dẫn lời một giáo viên Lịch sử trường THPT chuyên Phan Bội Châu, Nghệ An, thầy giáo Trần Trung Hiếu, về vấn đề này và ông có quan điểm đồng thuận với Giáo sư Võ Tòng Xuân. Đó là hình ảnh công trình kiến trúc Vạn Lý Trường Thành trên bìa SGK Lịch sử lớp 7 hiện hành không có gì là sai, nhạy cảm hay phản cảm.

Cần nhìn ở góc độ dung hoà

Tối thứ Tư ngày 15 tháng 8, ông Nguyễn Văn Tùng - Phó Tổng biên tập Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam trả lời VTC News, cho biết, hình ảnh minh họa in ở trang bìa sách lịch sử lớp 7 thể hiện một phần nội dung bên trong cuốn sách. Sách đã được Hội đồng thẩm định Quốc gia thẩm định và thông qua, được Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành sử dụng trong toàn quốc từ 2003 đến nay.

Trên mạng xã hội cũng có những phân tích từ dư luận đưa ra cho thấy cuốn giáo khoa lịch sử lớp 7 này có hai phần, lịch sử thế giới có 7 bài, trong đó có 1 bài về Trung Quốc. Lịch sử Việt Nam có 6 chương gồm 30 bài tổng cộng.

Nhiều ý kiến trên mạng xã hội nêu vấn đề rằng vì sao phải dùng kỳ quan của Trung Quốc, là Vạn lý trường thành? Vì sao không in những kỳ quan của Việt Nam đã được Unessco công nhận hoặc các hình ảnh lịch sử tiêu biểu như: Hoàng Thành Thăng Long, Kinh Thành Huế, Mỹ Sơn…

Vấn đề này được Giáo sư Võ Tòng Xuân chia sẻ quan điểm:

“Tôi nghĩ là chúng ta không nên có suy nghĩ là cái gì của Việt Nam là vẫn hay, chỉ học của Việt Nam thôi mà không học của thế giới, nhất là Trung Quốc. Ông bà mình cho tới bây giờ cũng kế thừa rất nhiều tập quán, rồi những cách ăn ở từ Trung Quốc. Họ đã đô hộ mình cả ngàn năm, mình đã thoát ra và tự hào là người Việt Nam. Nhưng không vì thế mà coi mọi thứ của Trung Quốc là xấu cả.

Cái công trình rất vĩ đại Vạn lý trường thành đâu có nước nào làm nổi. Nó xứng đáng cho học sinh mình biết.”


Cái công trình rất vĩ đại Vạn lý trường thành đâu có nước nào làm nổi. Nó xứng đáng cho học sinh mình biết.

- GS Võ Tòng Xuân
Nói một cách khác, theo Giáo sư Võ Tòng Xuân, nếu cứ mãi rao giảng cho thế hệ sau câu nói “Việt Nam rừng vàng biển bạc”, “cái gì cũng nhất” thì đó là lại vô hình trung là cách truyền tải phản giáo dục.

Thầy giáo Trần Trung Hiều trả lời báo trong nước rằng có một thực tế là rất nhiều năm qua, tâm lý chung của nhiều người khi nhắc đến tên "Trung Quốc" và những "sản phẩm" của họ khi được "nhập khẩu" vào Việt Nam, từ kinh tế đến văn hóa, tư tưởng với nhiều cụm từ, danh từ, động từ, tính từ rất thiếu thiện cảm và thân thiện.

Tâm lý này có cơ sở từ lịch sử hàng ngàn năm dựng và giữ nước của người Việt. Tư tưởng "ghét Tàu", "bài Tàu" của nhiều người dân gần như đã ăn sâu vào tiềm thức và máu thịt qua nhiều thế hệ, đã lan tỏa, đi sâu vào tận chốn làng quê đất Việt. Chính vì thế, theo thầy giáo Hiếu, nó dẫn thế một tâm thế và tư tưởng chưa được công bằng, khách quan của đa số người dân Việt Nam hiện nay khi nhìn nhận về Trung Quốc.

Đây cũng chính là nhận định của tác giả Thâm Giang Trần Gia Ninh. Ông kêu gọi mọi người nên xem xét từng vấn đề ở góc độ dung hoà và thông minh hơn, hướng đến một lợi ích to lớn hơn.


Cát Linh
RFA

Học viên cai nghiện trốn trại tập thể, vì sao?


Hai học viên cai nghiện ma túy tại một trung tâm cai nghiện ở Hải Phòng hôm 16 tháng 11 năm 2017 


Nhấp vào nút play (►) dưới đây để nghe
Nạn buôn bán và nghiện ma túy

Theo Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội Việt Nam, tính đến hết năm 2017 có gần 230.000 người nghiện ma túy có hồ sơ quản lý trên cả nước, cao hơn rất nhiều so với năm 1995 chỉ có khoảng 68.000 người.

Chiều 28/5/2018, trong buổi làm việc với UBND TP.HCM về tệ nạn ma túy, ông Huỳnh Thanh Khiết, Phó giám đốc Sở Lao động - Thương binh - Xã hội cho biết tình hình ma túy tại TP.HCM tiếp tục xu hướng gia tăng kể cả số vụ mua bán lẫn số người người nghiện, và độ tuổi người nghiện ngày càng trẻ.

Theo Công an tỉnh Sơn La, từ đầu năm nay đã phát hiện, bắt giữ gần 800 vụ, hơn 1000 người phạm các tội về ma túy; thu giữ 31,5 kg heroin; 34.000 viên ma túy tổng hợp; 31 kg thuốc phiện.

Một trong những trùm ma túy lớn nhất từ trước tới nay bị công an thành phố Hồ Chí Minh bắt hồi tháng trước với số lượng ma túy thu giữ được nói là lớn nhất với 179 bánh heroin được tìm thấy.

Ngay chính Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc trong Hội nghị trực tuyến toàn quốc về phòng chống và cai nghiện ma túy cách đây hai năm từng lo ngại rằng, dù nhiều vụ án ma túy lớn liên tục được phát hiện và xử lý nghiêm khắc nhưng tội phạm ma túy và tình trạng mua bán ma túy vẫn không giảm.

Lo ngại đó của người đứng đầu chính phủ Hà Nội sau hai năm cầm quyền vẫn không được giải tỏa dù truyền thông trong nước loan tin những cơ quan chức năng có nỗ lực xử lý.

Ngoài hoạt động chặn bắt, xét xử, tuyên án đối với thành phần buôn bán các loại ma túy, chất cấm; công tác cai nghiện cũng được thông báo là rộng khắp tại các tỉnh thành. Mục tiêu nhằm giáo dục những người sa ngã dứt cơn nghiện hút để rồi hòa nhập lại với cộng đồng.

Thực tiễn cai nghiện

Thế nhưng thời gian gần đây tại Việt Nam thường xảy ra tình trạng học viên trốn trại không muốn tiếp tục cai nghiện để trở về với gia đình, cộng đồng xã hội. Vụ trốn trại tập thể mới nhất xảy ra hôm 11/8 vừa qua với hơn 300 học viên cai nghiện ma túy ở Tiền Giang thoát ra ngoài. Họ mang theo gạch đá, cây làm hung khí kéo ra Quốc lộ 1 khiến nhiều người hoảng sợ.

Trước đó những vụ tương tự xảy ra ở Đồng Nai, Vũng Tàu, Hải Phòng… cũng gây náo động cộng đồng.

Lý do vì sao mà những người được giáo dục, cai nghiện lại nổi loạn, phá trại ra ngoài như thế?

Họ quản lý cũng chặt nhưng trong trại có những quản giáo, có những người nấu cơm, bán hàng ăn vẫn đưa ma túy vào rồi bán cho các anh em cai nghiện.

- Anh Nguyễn Thành Trung
Anh Nguyễn Thành Trung, một quản lý của cơ sở cai nghiện Hội Thánh Tin Lành, từng bị nghiện 13 năm nói với chúng tôi:

Theo em thì thường trong môi trường của nhà nước, thứ nhất là (người cai nghiện) không bao giờ có được tình yêu thương, họ bị người quản lý đánh đập. Thứ hai là họ bị bắt làm việc. Thứ ba là họ không được sự tôn trọng từ người khác. Họ luôn luôn bị đàn áp và không bao giờ được nghe những lời yêu thương và trân trọng, cho nên thường thì tâm lý của một người cai nghiện trong môi trường nhà nước thì hầu như người nào về cũng bị áp lực, cho nên về là dùng ma túy lại để chứng tỏ mình là người từng trải trong môi trường đó.

Anh Đoàn Văn Thành, một người nghiện ma túy đã 20 năm, từng qua nhiều trại cai nghiện của nhà nước trước khi về cai tại một cơ sở của Hội Thánh Tin Lành, cho biết:

Trong môi trường nhà nước thì họ giữ con người chứ không dạy đạo đức cho con người sống như nào để có tương lai, để thay đổi. Chủ yếu để giữ người và để lao động. Theo thống kê của nhà nước thì 10 người ra tại hết 9 người tái nghiện. Năm 2013 tụi em ra trại thì hết 90% là chơi lại, trong đó có cả bản thân em.

Học viên cai nghiện ở Vũng tàu trốn trại bị bắt trở lại, tháng 11/2016. AFP
Một chị không muốn nêu tên, từng là học viên một trung tâm cai nghiện hơn 3 năm trước đây cho RFA biết:

Mới bước vô phòng là bị ăn đòn rồi, đánh bầm dập như vậy đó, nó gọi, nó nói cái gì cũng nghe hết, đánh một trận đầu tiên là nói gì cũng nghe hết, quăng cho một bịch hột điều, kêu nửa tiếng xong, không xong là bị ăn đòn. Bữa nay là một mẫu mía, một đứa làm mấy trăm mét đó, đứa nào đứa nấy hăng hái làm, đứa nào mệt nghỉ tay một chút là cái cây giáng vô đầu liền. Đánh xỉu dội nước ra làm tiếp. Ban ngày làm không xong nó đánh chưa đủ, tối vô phòng đánh tiếp, đánh sao ngày mai làm cho kịp thì thôi.

Có một thực tế đáng ngại mà chính truyền thông Việt Nam loan tin là tình trạng mua bán và tàng trữ ma túy diễn ra tại một số trung tâm. Thực tế này được nói rất tinh vi và khó kiểm soát do học viên đông và lực lượng bảo vệ ít.

Anh Nguyễn Thành Trung nói với RFA:

Có, đầy hết. Trong trại họ đổi tiền ăn gia đình gửi thành ma túy. Có hết chị ạ. Họ quản lý cũng chặt nhưng trong trại có những quản giáo, có những người nấu cơm, bán hàng ăn vẫn đưa ma túy vào rồi bán cho các anh em cai nghiện. Cho nên tại sao có những anh em không bị Sida nhưng vào trại mới mắc vì khi có một cục ma túy cả buồng xài chung một xy-lanh.

Giải pháp nào?

Chị Minh, chủ một cơ sở cai nghiện ma túy ở thành phố Hồ Chí Minh nói rằng cơ sở của chị không đánh học viên nhưng cũng có biện pháp kỷ luật, chủ yếu là giáo dục. Còn chuyện học viên trốn trại hay không là do ý thức của học viên nữa chứ trung tâm không có quyền giữ người. Cái quan trọng là phải tư vấn làm sao để họ chấp nhận đi điều trị vì họ là người bệnh chứ không phải bị bắt đi. Chị nói thêm rằng nếu học viên không thông về tâm lý, giữ lại cho không trốn thì họ hủy hoại thân thể cũng vậy thôi.

Với số lượng người nghiện quá đông và cách cai nghiện như bao lâu nay không hiệu quả. Từ năm 2008, nhà nước đưa ra một cách điều trị thay thế nghiện chất dạng thuốc phiện bằng Methadone. Chị Minh cho biết:

Trong môi trường nhà nước thì họ giữ con người chứ không dạy đạo đức cho con người sống như nào để có tương lai, để thay đổi. Chủ yếu để giữ người và để lao động.

- Anh Đoàn Văn Thành
Chương trình Methadone là chương trình ma túy hợp pháp. Nó là ma túy sạch. Không lây nhiễm và hợp pháp, được nhà nước công nhận. Khi uống thì không bị nghiện nữa. Thời gian uống từ 1 tới 2 năm là tự ra chương trình bỏ được. Một phần cũng do nghị lực của họ nữa. Uống loại này thì không thèm chất gây nghiện khác mà vẫn sinh hoạt bình thường. Tiền thuốc nhà nước miễn phí, không tính tiền nhưng thu phí hành chánh, nhà nước khoảng 7 hoặc 8 trăm. Tư nhân thì một triệu rưỡi.

Với số người nghiện lên đến 230.000 tính đến cuối năm ngoái, báo Pháp Luật dẫn lời Tiến sĩ Alex Wodak - Chủ tịch Quỹ Cải cách Chính sách ma túy Australia rằng Việt Nam cần nhìn lại xem chính sách về ma túy Việt Nam đã áp dụng với người sử dụng ma túy trong vòng mấy chục năm vừa qua đã mang lại kết quả như thế nào hay để lại những hậu quả ra sao.

Diễm Thi
RFA

TQ bác bỏ báo cáo của Lầu Năm Góc là 'phỏng đoán thuần túy'


Một báo cáo thường niên của Bộ Quốc phòng Mỹ công bố trong tuần này nêu bật nỗ lực của Trung Quốc nhằm tăng cường ảnh hưởng toàn cầu, nói rằng quân đội Trung Quốc có thể đang tập luyện chuẩn bị cho các cuộc tấn công nhắm vào Mỹ và các đồng minh của Mỹ.

Bộ Quốc phòng Trung Quốc đã đệ trình kháng nghị với Mỹ về một báo cáo của Lầu Năm Góc nói rằng quân đội Trung Quốc có thể đang tập luyện chuẩn bị cho các cuộc tấn công nhắm vào Mỹ và các đồng minh của Mỹ, nói rằng nhận định này "phỏng đoán thuần túy."

Nhận định này, vào lúc căng thẳng Mỹ-Trung tăng cao về vấn đề thương mại, được đưa ra trong một báo cáo thường niên nêu bật nỗ lực của Trung Quốc nhằm tăng cường ảnh hưởng toàn cầu, với chi tiêu quốc phòng mà Lầu Năm Góc ước tính vượt quá 190 tỉ đôla vào năm 2017.

Bộ Quốc phòng Trung Quốc nói trong một thông cáo vào cuối ngày thứ Sáu rằng báo cáo của Lầu Năm Góc trình bày sai mục đích chiến lược của Trung Quốc và phóng đại "cái gọi là mối đe dọa quân sự Trung Quốc."

"Quân đội Trung Quốc kiên quyết phản đối điều này và đã đệ trình công hàm kháng nghị nghiêm khắc với phía Mỹ," bộ nói.

Trung Quốc đang tiến theo con đường phát triển hòa bình và theo đuổi một chiến lược quốc phòng mang tính phòng thủ, và vẫn luôn là nước đóng góp cho hòa bình thế giới và bảo vệ trật tự toàn cầu, bộ cho biết.

"Việc quân đội Trung Quốc tăng cường hiện đại hóa là để bảo vệ chủ quyền, an ninh và sự phát triển của đất nước, cũng như hòa bình, ổn định và thịnh vượng toàn cầu," bộ nói.

"Cải cách, việc phát triển vũ khí và năng lực phòng thủ trong không gian internet của quân đội Trung Quốc là chính đáng và hợp lí. Những chỉ trích trong báo cáo của Hoa Kỳ là phỏng đoán thuần túy."

Báo cáo của Lầu Năm Góc nói dù Quân đội Giải phóng Nhân dân tiếp tục mở rộng hoạt động, song không rõ thông điệp mà Bắc Kinh muốn gửi đi là gì qua việc cho các máy bay ném bom thực hiện các chuyến bay "ngoài mục đích phô bày năng lực được cải thiện."

Năm nay, không quân Trung Quốc đã cho các máy bay ném bom hạ cánh trên các đảo và các bãi đá ở Biển Đông như một phần trong một cuộc diễn tập huấn luyện trong khu vực có tranh chấp.

Vào tháng 1, Lầu Năm Góc đã đưa việc chống lại Bắc Kinh, cùng với Nga, vào tâm điểm của một chiến lược quốc phòng mới.

Bộ Quốc phòng Trung Quốc nói "công tác xây cất hòa bình" ở Biển Đông là quyền của Trung Quốc trong tư cách một quốc gia có chủ quyền, và họ chỉ trích Mỹ về các hoạt động tự do hàng hải ở đó.

Trung Quốc nói báo cáo của Mỹ gây tổn hại tới lòng tin lẫn nhau giữa hai nước, bộ cho biết.

"Chúng tôi đòi phía Mỹ từ bỏ tư duy Chiến tranh Lạnh, nhìn nhận việc phòng thủ và xây cất quân sự của Trung Quốc một cách khách quan và hợp lí, ngừng phát hành những báo cáo có liên quan và thực hiện các bước thực sự để thúc đẩy và bảo vệ sự phát triển bền vững của quan hệ liên quân đội," bộ nói.


VOA

Tại sao không dám ‘đối thoại’?


Các thành viên Bộ Chính Trị Đảng Cộng Sản Việt Nam. Ông Võ Văn Thưởng đứng thứ hai từ trái sang.

Ngày 18-5-2017, tại một hội nghị trực tuyến toàn quốc, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Võ Văn Thưởng nói: “Chúng ta không sợ đối thoại, không sợ tranh luận, bởi vì sự phát triển của mỗi lý luận và của học thuyết cách mạng nào rồi cũng phải dựa trên sự cọ xát và tranh luận. Và cũng chính sự tranh luận đó tạo ra cơ sở để hình thành chân lý”.

Nói thế thôi chứ “chúng ta” của Võ Văn Thưởng sợ đối thoại hơn tất cả thứ gì khác. Suốt chiều dài lịch sử đảng cộng sản lẫn nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam, chẳng bao giờ tồn tại cái gọi là “đối thoại” và “lắng nghe ý kiến”. Ngày 30-10-1956, chỉ với bài diễn văn ngắn đọc tại một phiên họp Mặt trận Tổ quốc, về sai lầm của cuộc Cải cách ruộng đất, tiến sĩ Nguyễn Mạnh Tường, một học giả tài năng xuất chúng, đã lãnh một hậu quả khủng khiếp là bị trù dập suốt đời. Ngay cả những người trong hệ thống chính quyền cộng sản, từ Hoàng Minh Chính, Trần Bách, Nguyễn Hộ, Nguyên Ngọc, Trần Độ, đến thậm chí Võ Nguyên Giáp, còn bị “đập” tơi tả khi “bày đặt có ý kiến” thì huống hồ “nhân dân” của một chính quyền “do dân, vì dân”!

Tại sao “chúng ta” của Võ Văn Thưởng không dám “đối thoại” với người dân? Không dám bởi vì không thể, không có khả năng, không đủ trình độ, và đặc biệt không đủ lý lẽ để giải thích hoặc biện minh cho những sai lầm chính sách, nhất là những gì liên quan cơ cấu bộ máy thể chế, từ “tam quyền phân lập” giả hiệu đến thậm chí cả Hiến pháp, trong đó luôn khẳng định “Bỏ điều 4 Hiến pháp là tự sát”. “Chúng ta” của Võ Văn Thưởng không muốn tự sát, như những cái chết oan khuất của những người đấu tranh bị bắt vào đồn và tử vong vì “tự ngã” hoặc “tự tử”. Cái chết bởi bạo lực nhân dân trong ngày cuối của một chế độ độc tài là nỗi ám ảnh đáng sợ. Tiếng kinh chiều tàn cầu hồn cho một cái chết đang đến gần cứ vọng bên tai, thường trực. U tối, rùng rợn, và ám ảnh. Cho nên làm sao họ đủ dũng cảm để đối mặt những “câu hỏi thời đại” của nhân dân, trong đó có câu hỏi “Việt Nam có chấp nhận mất nước khi nấp dưới cái bóng Trung Quốc?”.

Bối cảnh Việt Nam hiện nay không giống giai đoạn khối XHCN tan rã bởi “bọn xét lại” khiến Nguyễn Văn Linh phải hộc tốc sang Đông Âu kêu gọi “cứu nguy sự tan rã của khối anh em đoàn kết XHCN”. Tuy nhiên, nguy cơ sụp đổ bởi sự nổi dậy nhân dân ngày càng lớn hơn bao giờ. Bài học sức mạnh nhân dân trong các cuộc cách mạng Cam hoặc cách mạng Hoa nhài đã làm lạnh sống lưng những kẻ cai trị Việt Nam. Bằng mọi giá phải giữ thể chế - họ hoảng hốt lo sợ, khi mà sự mục ruỗng chế độ đã đến mức trầm trọng mà nguyên nhân của nó xuất phát từ chính những sai lầm căn bản mang tính nội tại hơn là từ “thế lực thù địch bên ngoài”. Bằng mọi giá phải siết lại tự do, đưa dân chủ vào khái niệm “dân chủ tập trung” do Đảng và Nhà nước giám sát chứ không thể thả lỏng tự do để tự do hình thành dòng chảy như là một xu hướng tất yếu. Bạo lực là giải pháp duy nhất cho sự bảo vệ chế độ ở thời điểm này.

Nếu thật sự lắng nghe ý kiến người dân thì họ đã nghe và đã sửa. Ngày 22-1-1990, lá Tâm thư với chữ ký của hàng trăm trí thức kiều bào do giáo sư tiến sĩ Nguyễn Ngọc Giao đại diện, gửi về Việt Nam từ Pháp, đã cảnh báo:

“Do những đường lối, chính sách không phù hợp với tình hình thế giới cũng như với thực tế của Việt Nam, nước ta đã bị cô lập về mặt kinh tế cũng như ngoại giao và vẫn chưa thoát ra khỏi cảnh nghèo khó. Đau lòng hơn nữa, cuộc đổi mới khởi động năm 1986 đã bị trì hoãn, bỏ lỡ một cơ may lớn, làm tổn thương lòng tin của nhân dân mới phần nào được phục hồi. Những biến cố vừa xảy ra ở Đông Đức, Tiệp Khắc và nhất là Rumani cho thấy là trong một tình hình chính trị, kinh tế, xã hội bế tắc kéo dài quá lâu, sự thụ động bề ngoài của quần chúng mà sức kiên nhẫn chịu đựng dẫu sao cũng có giới hạn, nhiều khi chỉ là sự bình lặng trước cơn bão lớn. Để tránh cho đất nước khỏi rơi vào thảm kịch Thiên An Môn hay Rumani, trước tiên cần nhận thức rằng không thể dùng đàn áp hay bạo động để giải quyết những vấn đề trầm trọng hiện nay của đất nước mà phải tìm được những phương pháp chính trị thích nghi. Hãy vì quyền lợi tối cao của dân tộc, sớm cải tổ hệ thống chính trị hiện có bằng cách: Thực sự tách rời các định chế của Nhà nước ra khỏi bộ máy chính đảng để cho Nhà nước thu hồi trọn vẹn những quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp của mình, để cho không một ai cũng như không một tổ chức nào có thể đứng trên và chi phối Nhà nước; Thiết lập một nền dân chủ đa nguyên, thực sự bảo đảm an toàn cá nhân và các quyền tự do ngôn luận, báo chí, hội họp, lập hội, lập đảng…”.

Tâm thư đã được “đón nhận” và được “phản hồi”: Những trí thức kiều bào ký tên vào Tâm thư không được cấp visa về nước; có người thậm chí được “đăng tên” ở “Bảo tàng tội ác Mỹ-Ngụy” trong suốt 14 năm; danh sách 34 người ký tên đầu tiên được niêm yết ở trụ sở công an địa phương cũng như sứ quán một số nước! Từ năm 1990 đến nay, có bao nhiêu “tâm thư” của đồng bào trong nước lẫn hải ngoại? Có ý kiến nào được lắng nghe? Những người dân can đảm dám hành động và lên tiếng vì yêu nước đã luôn nhận lãnh một kết cục bi thảm: điểm dừng của họ là nhà tù, như Trần Huỳnh Duy Thức.

Khó có thể tưởng tượng một “lý thuyết gia” về “tư tưởng” như Võ Văn Thưởng sẽ “ăn nói” như thế nào khi đối mặt với Phạm Đoan Trang, với Trịnh Hữu Long, với Nguyễn Anh Tuấn… Khó có thể hình dung một nhân vật trong Bộ chính trị, kể cả “tiến sĩ Xây dựng Đảng” Nguyễn Phú Trọng, đủ khả năng và lý lẽ để “nói chuyện phải quấy” với những gương mặt trẻ đại diện cho “bọn phản động”. Ngày đó, ngày mà nhà cầm quyền chịu ngồi xuống, để bắt tay và nói chuyện với sinh viên, với công nhân, với những người đấu tranh, có thể chẳng bao giờ xảy ra. Thay vào đó là bạo lực đàn áp, là những bản án tù nghiệt ngã và những cái chết vì “tự sát” trong đồn công an. Hãy dừng lại đi! Dân tộc này đã đổ quá nhiều máu và đã gánh chịu quá nhiều đau thương. Hãy dừng lại những nắm đấm và chìa ra những bàn tay. Không dân tộc nào có thể đi lên phía trước, khi để lại sau lưng những gương mặt người dân bầm tím và những ánh mắt oán thù, bởi sự xuống tay của bạo lực cường quyền.


Mạnh Kim
Blog VOA

Tội nghiệp Fidel Castro!


Hai anh em Fidel Castro (trái) và Raul Castro. Hình chụp năm 1999. (AFP)

Fidel Castro, cựu Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Cuba, cựu Chủ tịch Hội đồng Nhà nước và Hội đồng Bộ trưởng Cộng hoà Cuba, qua đời đã gần ba năm nhưng vẫn còn bị lôi ra bán… lẻ!

***

Ngày 3 tháng 12 năm 2016, trong lễ tang Fidel Castro, Raul Castro – lúc đó là Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Cuba, đồng thời cũng là em ruột Fidel Castro, thông báo, di nguyện của anh trai ông ta là đừng lấy Fidel Castro làm tên cho bất kỳ con đường, công trình nào và cũng đừng xây tượng đài Fidel Castro. Raul Castro giải thích, Fidel Castro chống sùng bái cá nhân, cả Đảng Cộng sản lẫn chính quyền Cuba đồng tình với quan điểm đó nên cấm dùng tên Fidel Castro nhằm vinh danh, tưởng niệm ông ta.

Xưa nay, thời nào và ở đâu, bất kể Đông hay Tây, tôn trọng – thực hiện di nguyện của người quá cố cũng là một trong những tiêu chí của đạo đức, văn hóa, văn minh. Dù luôn tỏ ra rất yêu quý, kính trọng Fidel Castro, thậm chí còn tổ chức quốc tang tưởng niệm Fidel Castro song với hệ thống chính trị, hệ thống công quyền tại Việt Nam, dẫu Fidel Castro đã yên giấc ngàn thu nhưng vẫn còn có chỗ để… dùng, thành ra ráng tận dụng cho hết… công năng, xem ra di nguyện của Fidel Castro còn nhẹ hơn lông hồng.

***

Hồi thượng tuần tháng này, Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam – Cuba ở Đồng Hới, Quảng Bình, tổ chức khánh thành một khu tưởng niệm, diện tích 90 mét vuông, trong khuôn viên có bức tượng bán thân bằng đồng của Fidel Castro. Tổng chi phí cho Khu tưởng niệm Fidel Castro khoảng 500 triệu và được giới thiệu là do đóng góp của cán bộ, nhân viên y tế, các tổ chức, cá nhân ở Quảng Bình.

Trên mạng xã hội, tin khánh thành Khu tưởng niệm Fidel Castro ở Quảng Bình trở thành “tin nóng” vì hai lý do: Thứ nhất nó trái với di nguyện của chính ông ta. Thứ hai, trong bối cảnh công quỹ mất cân đối trầm trọng, thu không đủ nên liên tục phải vay mượn để cầm cự, phong trào xây dựng tượng đài, khu tưởng niệm tưởng như đã “mồ yên, mả đẹp”, không dè lại hồi sinh. Nhiều facebooker như Nhàn Lê nhận định: Lại xây tượng đài. Lại ăn bộ đồ lòng của Fidel. Làm gì thì làm, cứ có cái ăn là được, chúng em sẽ xây tất. Phấn đấu một cây số, một tượng đài.

Nhàn Lê không dè và thật tình là hàng chục triệu người Việt cũng không dè, ngoài Quảng Bình, còn có Quảng Trị sắp hoàn thành kế hoạch lập khu tưởng niệm Fidel Castro. Theo báo chí Việt Nam thì cách nay năm tháng, hồi giữa tháng ba, chính quyền tỉnh Quảng Trị đã từng gửi văn bản cho Bộ Kế hoạch – Đầu tư đề nghị xem xét và trình sớm để Thủ tướng Việt Nam phê duyệt sớm và hỗ trợ ngay cho Quảng Trị 30 tỉ để “hoàn thành các hạng mục cơ bản của Dự án công viên Fidel Castro trong năm nay, đúng dịp Kỷ niệm 45 năm ngày Fidel Castro đến thăm vùng giải phóng Quảng Trị”. Theo văn bản mà đến giờ thiên hạ mới biết ấy thì hóa ra, Quảng Trị đã chi 30 tỉ đồng để giải phóng mặt bằng và 44,5 tỉ đồng để san lấp mặt bằng. Nếu không có nhầm lẫn trong việc cộng, trừ thì khi hoàn tất, Công viên Fidel Castro ngốn hết hơn 100 tỉ đồng của dân chúng Việt Nam.

Trong chuyến thăm Việt Nam hồi tháng 9 năm 1973 – khi cuộc chiến giữa hai miền Nam, Bắc Việt Nam chưa kết thúc, Fidel Castro từng bí mật đến Quảng Bình và đảo qua Quảng Trị trong vòng chưa đầy một ngày (15 tháng 9 năm 1973). Chỉ chừng đó đủ để Quảng Bình, Quảng Trị nhớ mãi ơn sâu, xứng đáng để công khố Việt Nam chi ra hơn trăm tỉ để hậu thế đừng quên?

Ông Trần Đình Thu, một facebooker ở Quảng Trị, chất vấn ông Nguyễn Đức Chính, Chủ tịch tỉnh Quảng Trị trên mạng xã hội: Quảng Trị vẫn còn xin gạo cứu đói, ông không biết tự vấn lương tâm về chuyện này đã đành, tại sao còn lấy ngân sách địa phương và ngửa tay xin trung ương để dựng tượng Fidel Castro? Trần Đình Thu đưa lên facebook tấm ảnh chụp bốn đứa trẻ chỉ chừng năm tuổi, đang lội qua đoạn suối mà nước ngập ngang thắt lưng để nêu thêm một câu hỏi khác: Đây là lối những những đứa trẻ ở Vĩnh Linh, Quảng Trị đến trường nè. Tại sao không dành 1% số tiền ấy để xây cho chúng cây cầu mà làm Công viên Fidel Castro hở ông Chính? Đạo làm quan là như thế sao?

Có một điểm cần lưu ý là trước sự kiện Quảng Bình, Quảng Trị - hai trong số những tỉnh mà dân nghèo tới mức, chính quyền địa phương năm nào cũng xin cứu đói – đồng loạt xây dựng những khu tưởng niệm Fidel Castro, đa số người sử dụng mạng xã hội tại Việt Nam không nêu ra những thắc mắc như Trần Đình Thu, bởi họ biết rõ nguyên do. Chẳng hạn, Bon Phi giải thích ngay cho Trần Đình Thu: Không xây dựng thì lấy tiền mô chia nhau? Bọn quan bây giờ mà nghĩ đến dân, đến nước là điều không tưởng! Tương tự, Trần Hữu Khả phân tích, vừa móc túi dân, vừa xin xỏ hơn 100 tỉ thì ít ra cũng đớp được hơn phân nửa. Đó là núi vàng, đừng kêu gọi đạo đức, lũ quan này làm chi có tim óc mà đánh động. Dân càng mạt thì quan càng giàu. Đó là điểm ưu việt của… chế độ ta. Cũng nghĩ như vậy, Nguyễn Thị Bích Vân khẳng định, xây tượng đài thì được chia chác nhiều nên quan tham quyết làm cho được dù nó vô bổ và làm mọi người bức xúc.

Cũng có không ít facebooker nhắc đến di nguyện của Fidel Castro và thắc mắc nếu thực sự yêu kính Fidel Castro thì tại sao không tôn trọng và thực hiện di nguyện ấy. Trên facebook của Nguyễn Quang, Thep Luu Trung băn khoăn: Không sợ dân Cuba họ cười à? Nguyễn Quang trả lời ngay lập tức: Những nỗi lo, sợ kiểu đó hình như không bao giờ có. Theo hướng này, Quang Tran nhận định trên diễn đàn của Tri thức Việt Nam: Tưởng niệm để chấm mút, xà xẻo chứ chẳng tử tế gì với phi…đen, phi… đỏ đâu!

***

Nếu nhìn vấn đề theo lối mà đa số công chúng Việt Nam cùng nhìn trong sự kiện Quảng Bình, Quảng Trị xây dựng các khu tưởng niệm Fidel Castro thì chắc giới lãnh đạo nhiều địa phương đang lấy làm tiếc vì ngày xưa, Fidel Castro không đến địa phương của mình. Hóa ra phong trào xây tượng đài, khu tưởng niệm lắng xuống không phải vì giới lãnh đạo hệ thống chính trị, hệ thống công quyền tại Việt Nam tôn trọng dân ý, không muốn phung phí nội lực quốc gia vào những công trình vô bổ, chỉ tạo cơ hội cho cán bộ, viên chức hữu trách kiếm chác. Phong trào xây tượng đài, khu tưởng niệm tạm lắng chỉ vì… thiếu lý do. Thế thôi.


Nhân chuyện vứt bỏ di nguyện của Fidel Castro, chà đạp lên di nguyện ấy bằng các khu tưởng niệm, đã có vài facebook so sánh hành việc ấy với việc vứt bỏ di nguyện mà ông Hồ Chí Minh nêu trong di chúc của ông (không tổ chức phúng điếu linh đình để khỏi lãng phí thời gian và tiền bạc của nhân dân, hỏa táng thi hài để vừa tốt về mặt vệ sinh lại không tốn đất). Giờ, lăng ông Hồ Chí Minh vẫn còn đó, đã có rất nhiều người khẳng định, chi phí bảo quản thi hài, bảo vệ, duy trì hoạt động của lăng rất lớn (có riêng một Bộ Tư lệnh với ba ông tướng, chỉ huy một đại đơn vị của quân đội lo việc này), góp phần không nhỏ vào chuyện gia tăng nợ nần nay đã chạm mức 3,53 triệu tỉ đồng, phúc lợi công cộng càng ngày càng teo tóp. Đâu chỉ có Fidel Castro bị mang ra bán lẻ. Bán sỉ hay bán lẻ đều là bị bán.


Trân Văn
Thiên Hạ Luận

Tướng Hùng ơi, truyền thông không thể là tấm gương thủng


Thiếu tướng Nguyễn Mạnh Hùng. (Photo CAND)

Nghe tin Thiếu tướng Nguyễn Mạnh Hùng được cử làm quyền Bộ trưởng Thông tin Truyền thông tôi nghĩ ông ắt phải khá hơn người tiền nhiệm Trương Minh Tuấn. Tôi từng xem vài video trong đó Tướng Hùng có những phát biểu khá ấn tượng. Trong lần phát biểu ở một sự kiện của Vingroup khi còn là tổng giám đốc Viettel, ông đã nói về tầm quan trọng của sự khác biệt: “Nếu mình không tìm ra được một cách tiếp cận khác biệt thì cương quyết không làm.” Trong một video khác trên Facebook ông lại nói về chuyện Viettel có nhiều người giỏi vì tập đoàn hay làm những cái mới và khó nên ai dốt sẽ không thể làm được.

Ngay sau khi về Bộ Thông tin Truyền thông, ông Hùng lập tức nói ông chỉ muốn thấy 10% tin xấu trên báo chí. Về lý thuyết mà nói, bộ của ông Hùng và những người phụ trách văn hoá tư tưởng của Đảng quản lý tất tần tật các cơ quan truyền thông nên ông muốn gì mà chẳng được. Nhưng nếu ta coi truyền thông như tấm gương phản chiếu xã hội thì chuyện hạn chế tin xấu chẳng khác nào muốn có một tấm gương thủng. Đa số người dân và lãnh đạo nhìn vào đó sẽ chỉ thấy phần nào hiện trạng xã hội. Tôi nói đa số chứ không phải tất cả vì nhiều lãnh đạo còn có các nguồn tin tham khảo khác, đôi khi được coi như tài liệu không phổ biến rộng rãi. Và nhiều người dân giờ cũng đã đủ thông minh để đa dạng hoá nguồn thông tin thay vì chỉ xem VTV và đọc các báo trong nước. Thực tế người ta đã nghe BBC, VOA… từ lâu nhưng giờ lại có thể đọc tin của các hãng quốc tế trên internet và mạng xã hội.

Nói lý thuyết có thể trừu tượng nên xin dẫn hai ví dụ về hai tin xảy ra trong tuần này để Tướng Hùng dễ hiểu. Tối 15/8 ca sỹ Nguyễn Tín cùng bạn bè hát phục vụ vài chục người trong một quán cà phê ở quận 3, thành phố Hồ Chí Minh như khán giả Nguyễn Lân Thắng đã tường thuật trực tiếp. Một sự kiện văn hoá được những người yêu nghệ thuật trong đó có cả em nhỏ và người có tuổi tham dự cuối cùng đã bị phá hỏng. Đông đảo nhân viên an ninh và công an tới yêu cầu mọi người ra về một cách vô văn hoá sau khi đòi kiểm tra giấy tờ tuỳ thân và thậm chí đã hành hung ba người trong đó có nhà hoạt động Phạm Đoan Trang, ca sỹ Nguyễn Tín và nhà tổ chức Nguyễn Đại, theo lời kể lại của hai Facebooker Lê Bảo NhiVõ Hồng Ly. Chắc hẳn đây là tin vô cùng xấu vì không thấy báo nào trong nước đưa tin. Nhưng nó lại có trên Facebook và trên các trang tin nước ngoài như RFA mà ca sỹ Nguyễn Tín dẫn lại với lời bình “đêm kinh hoàng”. Đây là biểu hiện của sự lạm quyền của ngành công an mà đỉnh điểm của nó là vụ một loạt tướng công an bị xử lý gần đây. Nó cũng cho thấy xu hướng dùng bạo lực để giải quyết các mâu thuẫn trong xã hội. Nhưng chiếc gương truyền thông đã thủng lỗ chỗ từ trước khi Tướng Hùng về Bộ 4T tịnh không thấy đưa tin và chẳng có lý do gì để ông khoan thêm vài lỗ nữa.

Ví dụ thứ hai sẽ cho thấy không những gương truyền thông đã thủng mà có chỗ nó còn làm cho bộ mặt xã hội biến dạng, trông vậy mà chẳng phải vậy. Đó là vụ ông Lê Đình Lượng bị toà án ở thành phố Vinh tuyên án tới 20 năm tù giam vì “tội” lật đổ. Truyền thông trong nước nói là xử công khai, nhưng đâu phải ai muốn tới dự là được. Trên mạng xã hội đã có những cáo buộc về chuyện một số người tới dự bị bịt mặt đưa đi và bị đánh đập. Theo lời thuật lại của Luật sư Đặng Đình Mạnh, hai nhân chứng chống lại ông Lượng đều đã phản cung vì cho rằng bị ép cung và cũng không thể có mặt tại toà với lý do sức khoẻ. Và trong khi Viện Kiểm sát chỉ đề nghị tối đa là 18 năm tù giam, hội đồng xét xử đã kết án tới 20 năm. Phải chăng đây là một phần đòn trả thù cho việc ông Lê Đình Lượng là một trong những bị cáo quan trọng đầu tiên giữ quyền im lặng mà luật pháp Việt Nam đã công nhận? Nếu chỉ theo dõi truyền thông trong nước không thôi người ta sẽ có cách hiểu khác về sự nghiêm minh của công lý ở Việt Nam mà nhiều người nói thực ra “chỉ là một vở hài kịch”.

Tôi không kỳ vọng Tướng Hùng sẽ làm được gì nhiều để truyền thông Việt Nam trung thực hơn và có tính cạnh tranh hơn với truyền thông thế giới. Nhưng chính ông đã nói phải tìm sự khác biệt và phải làm cái gì mới. Chỉ mong ông thêm hai chữ ‘tử tế’ vào hai điều ông nói.


Nguyễn Hùng
Blog VOA

Các tiền đề của tự do


Hình minh họa.

Tôi là người theo xu hướng tự do. Có lẽ đó là giá trị cao cả và tiền điều kiện để sống cho có nhân phẩm. Đây là kinh nghiệm của chính mình và của bao người thuộc đủ mọi sắc tộc mà tôi có cơ hội làm việc. Khi một người có đủ thứ, tiền tài danh vọng, mà không có tự do, thì cũng không trọn vẹn. Tự do cho toàn xã hội, cho mọi công dân mà không phân biệt vì bất cứ lý do nào. Không phải là loại tự do hoang dã, nhưng là tự do ràng buộc bởi hiến pháp và pháp luật. Có tự do chưa hẳn sẽ mưu cầu được hạnh phúc, nhưng không có tự do, nghĩa là bị áp bức và nhất là bị áp đặt về mặt tư tưởng, chẳng hạn, thì không thể mưu cầu hạnh phúc đích thực.

Có thể có người siêu phàm vượt qua được mọi chướng ngại chung quanh để có hạnh phúc chăng, dù không có tự do. Nhưng đó là thiểu số đếm trên đầu ngón tay. Có thể họ đã tôi luyện được “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”. Có thể họ đã trở thành cao siêu và giác ngộ đến độ những cái khổ đau, tội ác, xấu xa hay bất công chung quanh mình không ảnh hưởng đến cảm nhận hay trí tuệ siêu việt của họ. Rất có thể họ có khả năng tách mình ra ngoài xã hội để không bị ảnh hưởng và không cảm nhận được nỗi đau của đồng loại, của những người chung quanh. Nhưng khoa học đã chứng minh con người là một động vật xã hội. Chúng ta không thể tồn tại hay phát triển một cách ý nghĩa, trọn vẹn và toàn diện nếu cô lập mình hoàn toàn. Một người chỉ có thể có hạnh phúc nếu họ tự do được chọn thực hiện những gì họ có khả năng nhất và thích hợp nhất với tài năng và lương tâm họ của họ. Tóm lại, tôi tin rằng tự do là điều kiện căn bản cho hạnh phúc đích thực.

Để có tự do, mọi công dân trong xã hội cần phải hiểu cái giá mà nhân loại đã trải qua, ngay cả khi họ đã có nó. Coi thường tự do thì sẽ mất tự do. Xâm phạm quá nhiều vào quyền tự do của người khác sẽ dẫn đến mất tự do của chính mình, nếu không bây giờ thì cũng sẽ xảy ra một ngày nào đó. Bao nhiêu cuộc đấu tranh nhân danh tự do để lật đổ chính thể cai trị để rồi khi đã nắm được quyền lực trong tay, những cá nhân và chính quyền này đã phản bội mọi sự hứa hẹn trước đó. Các thể chế chính trị dân chủ non trẻ như Ba Lan, Tiệp Khắc, Đài Loan, Đại Hàn, Thái Lan v.v…, nơi mà văn hoá dân chủ chưa thấm sâu vào trong cách suy nghĩ và hành xử của cá nhân và tập thể, và nơi mà các định chế nhà nước, từ chính trị đến xã hội và giáo dục, vẫn chưa đề cao sự trong sạch, minh bạch và trách nhiệm, thì không có gì bảo đảm sự vững ổn của nền dân chủ đó. Chỉ cần có những khó khăn của quốc gia về môi trường sống, về kinh tế, về công ăn việc làm, chẳng hạn, thì sự hứa hẹn của một nhà dân tuý mị dân có thể làm lung lây cái nền tảng dân chủ không vững chắc này.

Cho nên một trong những điều quan trọng, và là bài học cần thiết cho Việt Nam trong tương lai, là chương trình giáo dục cho mọi công dân. Ít nhất là từ trung học trở đi, tất cả đều phải học về văn hoá, lịch sử, chính trị học, xã hội học, và nhân chủng học, của đất nước và của thế giới, để hiểu về con người, các điểm tương đồng cũng như khác biệt, giữa cùng chủng tộc và khác chủng tộc, về các tôn giáo và các nền văn minh khác nhau.

Học ở đây không phải là học thuộc lòng. Cái kiến thức không quan trọng bằng cái tri thức. Bộ óc con người có khả năng trí nhớ nhưng như thế không khác gì máy vi tính hiện nay. Máy vi tính có bộ nhớ hơn hẳn con người. Với trí tuệ nhân tạo trong tương lai gần, máy siêu vi tính hay máy tính lượng tử có khả năng vượt qua con người trên nhiều bình diện. Nếu con người không chỉ biết nghĩ gì mà nghĩ như thế nào (not only what to think but how to think) thì chúng ta sẽ tồn tại và sẽ tiếp tục phát triển khoa học kỹ thuật và nền văn minh của mình trong các thập niên và các thế kỷ tới. Những gì bất khả ngày hôm nay không có nghĩa vẫn như thế ngày mai. Bộ óc con người được trang bị như thế để tồn tại, và chúng ta đều có khả năng thay đổi thói quen tưởng chừng như bất di bất dịch.

Học thì phải biết phân tích, lý luận, biện luận và tranh luận cho quan điểm của mình hay phản biện các quan điểm khác. Bậc đại học là nơi để sinh viên trao dồi và phát huy cách suy nghĩ như thế nào về một vấn đề nào đó. Còn đến đó chỉ để học về kiến thức thôi thì không những không thể có được những khám phá gì mới mẻ mà còn mãi mãi chỉ là học trò của những người bạn chung quanh.

Cái tư duy độc lập đó, được trang trị bởi cách suy nghĩ phê phán và đa phương, là nền tảng căn bản nhưng quan trọng nhất của một nền dân chủ vững ổn.

Chúng ta đã được nghe và đọc rất nhiều về lịch sử lập quốc của Hoa Kỳ. Đọc lịch sử với các biến cố và kết cuộc vĩ đại, chúng ta dễ dàng choáng ván rồi bỏ qua điều quan trọng. Đó là các nhà lập quốc đã nghĩ gì, đã tranh luận như thế nào, đã vận động, thuyết phục và thoả hiệp nhau như thế nào, để đưa đến Tuyên Ngôn Độc Lập rồi thống hợp 13 tiểu quốc/bang để thành một Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ với một hiến pháp và các quyền tự do trong tu chính một đến mười kèm theo ngay sau đó.

Theo giáo sư chính trị học nổi tiếng Graham Allison, người đã đặt tên “bẫy Thucydides”, thì các nhà lập quốc Hoa Kỳ hiểu rất rõ rằng xây dựng một chính quyền mà trong đó các công dân tự do của mình có thể tự quản trị là một đảm nhận nguy hiểm và bất định [1]. Trong những câu hỏi khó khăn nhất mà họ phải đối diện là làm thế nào cấu tạo một chính quyền đủ mạnh để đảm bảo các quyền công dân ngay trên nước mình, đồng thời bảo vệ họ từ những kẻ thù bên ngoài, nhưng không quá mạnh đến độ nó lạm dụng sức mạnh của nó.

Giải pháp của họ không chỉ là sự phân chia quyền lực (separation of power) của nhà nước thành các định chế/nhánh hành pháp, lập pháp và tư pháp, mà còn là “các định chế phân lập chia sẻ quyền lực” (separated institutions sharing power). Theo Richard Neustadt thì hiến pháp là một sự mời gọi để đấu tranh nhau (invitation to struggle). Các tổng thống, thành viên quốc hội (dân biểu và thượng nghị sĩ), thẩm phán và ngay cả các ký giả/nhà truyền thông đã đấu tranh nhau kể từ đó và sẽ không bao giờ chấm dứt. Tiến trình này không có nghĩa/được xem là tốt đẹp (not meant to be pretty). Thẩm phán tối cao pháp viện của Hoa Kỳ Louise Brandeis đã giải thích với những người bực bội về những sự chậm chạm, đình trệ và kể cả ngu xuẩn đối với những sự kiểm tra và cân bằng này thỉnh thoảng đưa đến, rằng mục đích của các nhà lập quốc Hoa Kỳ là “không phải để đề cao hiệu năng mà là để ngăn chặn sự áp dụng quyền lực một cách tuỳ tiện”.

Cho nên ngay từ ban đầu, sự thử nghiệm của Hoa Kỳ đối với nền tự trị luôn luôn là công việc tiếp diễn không ngừng. Nó đã đưa đến thất bại không chỉ một lần, cuộc nội chiến. Thời Abraham Lincoln, ông từng đặt câu hỏi: “có thể một quốc gia, hay bất cứ quốc gia nào được hình thành, … có thể tồn tại lâu dài được chăng”. Nó không phải là một câu hỏi nghe cho vui. Nhưng lập đi lập lại, và phần lớn rất kỳ diệu, Hoa Kỳ đã chứng minh khả năng đổi mới và tái tạo. Allison biện luận rằng qua kinh nghiệm đau đớn này, điều bắt buộc tái diễn đối với các lãnh đạo Hoa Kỳ là phải chứng minh được rằng chủ nghĩa cấp tiến (liberalism) có thể tồn tại ít nhất tại một quốc gia.

Trump là một thách thức cực lớn không phải chỉ cho nền trật tự thế giới hiện nay mà còn cho chính nền dân chủ tại Hoa Kỳ hôm nay. Trump đặt vấn đề về tính chính đáng của các thẩm phán liên bang, không tỏ vẻ tôn trọng Hiến pháp hay nền pháp trị, và nhất là tấn công vào truyền thông, vân vân…

Trong nền dân chủ cấp tiến (liberal democracy), truyền thông được xem là đại tứ quyền, ngoài tư pháp hành pháp và lập pháp. Không phải truyền thông nào cũng nói sự thật. Thật ra, một cách tốt nhất (at best), truyền thông nào cũng chỉ nói một hay nhiều phần sự thật, dù với thiện ý để đi tìm hoặc phơi bày sự thật đi nữa. Họ đều có giới hạn, hoặc là vì khả năng, nhân sự chuyên môn, quan điểm chính trị, hay vì tài lực v.v… Người đọc, do đó, cần phải đọc với cặp mắt phê phán chứ không nên tin răm rắp những gì truyền thông, ngay cả các cơ quan uy tín nhất đi nữa, nói/viết. Nhưng nếu truyền thông không được tự do trong việc truyền tải thông tin và nhận định của họ thì quốc gia và xã hội đó chắc chắn sẽ trở thành độc đoán và độc tài, không sớm thì muộn.

Winston Churchill xem việc than phiền về truyền thông cũng chẳng khác gì than trách thuyền trên biển gặp phải sóng. Vậy mà Trump không biết bao nhiêu lần gọi các cơ quan truyền thông không cùng quan điểm với mình là “kẻ thù của người dân Mỹ”, và là “giả”, đủ mọi thứ giả [2]. Tin giả, chuyện giả, truyền thông giả, thăm dò ý kiến giả v.v… Tuy thế, tôi tin rằng hiện tượng Trump đã hay sẽ làm cho Hoa Kỳ, nhất là giới ưu tú, thức tỉnh để từ đó góp phần giúp Hoa Kỳ hồi phục và trở thành vĩ đại trở lại. Ít ra là phục hồi và củng cố nền dân chủ đang có nhiều vấn đề hiện nay.

Những ai quan tâm đến tình hình Việt Nam, cho cuộc vận động dân chủ hiện nay và cuộc xây dựng nền tảng dân chủ cho đất nước mai sau, với tinh thần cầu tiến và khách quan, có thể học hỏi nhiều từ những đấu tranh không ngừng giữa mọi thành phần xã hội và chính trị tại Hoa Kỳ. Chúng ta cũng có thể học hỏi được rất nhiều từ công cuộc vận động dân chủ thành công lẫn thất bại khắp nơi trong các thập niên qua. Và cũng có thể học được rất nhiều từ các nhà lập quốc Hoa Kỳ, qua tư tưởng, chiến lược, chính sách và kế hoạch thời đó. Đặc biệt là qua nỗ lực xây dựng các định chế nhà nước của họ. Đó là những nỗ lực không ngừng, tái kiến thiết tái xây dựng và tái hoàn chỉnh. Bởi chỉ khi nào chúng ta nghĩ một vấn đề gì đó đã hoàn chỉnh thì mới không còn cố gắng hoàn chỉnh nó. Nhưng mọi sự do con người làm ra đều không hoàn chỉnh. Bản chất con người là không hoàn hảo hay hoàn thiện. Mỗi thời đại lại có ý tưởng mới. Hiểu được như thế chúng ta không kiêu ngạo và không an phận.

Mỗi thế hệ họ tự thấu hiểu và tự điều chỉnh lấy các vấn đề xã hội và các thử thách đối diện. Để làm được việc đó, mỗi công dân trong xã hội cần được trang bị kiến thức cần thiết và được khuyến khích tinh thần chuẩn bị gánh vác những vai trò quan trọng cho cộng đồng và quốc gia, bằng tư duy độc lập. Chỉ khi nào người dân, nhất là những người quan tâm đến các vấn đề chung, hiểu thấu các vấn đề của quá khứ/lịch sử, của hiện tại, và có viễn kiến, tầm nhìn cho tương lai, thì mới hy vọng xây dựng được những ước mơ lớn cho chính mình và cho dân tộc mình.

(Úc Châu, 16/08/2018)


Lê Phú Khải
Bạn đọc làm báo
Tài liệu tham khảo:


1. Graham Allison, “The Myth of the Liberal Order”, Foreign Affairs, Volume 97, Number 4, July/August 2018; trang 124-133. Allison là người nghiên cứu về cái bẫy chết người mà nhà sử học Hy Lạp Thucydides đã nhận diện và giải thích. Đó là sử trổi dậy của Athen và mối lo sợ của Sparta đã làm cho chiến tranh hai bên không thể tránh được. Xin đọc Graham Allison, “The Thucydides Trap”, Foreign Policy, 9 June 2017. Allison nghiên cứu lịch sử 500 năm qua và kết luận rằng trong 16 trường hợp tương tự như thế thì có đến 12 trường hợp dẫn đến chiến tranh. Liệu chiến tranh có xảy ra giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ không? Nếu thích thì có thể tìm hiểu thêm tác phẩm của ông “Destined for war”, Houghtin Mifflin Harcourt, 2017.


2. Cleve R. Wootson Jr., “ ‘Not the enemy of the people’: 70 news organizations will blast Trump’s attack on the media”, The Washington Post, 12 August 2018.
 
website statistics
Top ↑ Copyright © 2011. Người Đưa Tin - All Rights Reserved
Back To Top ↑