Người Đưa Tin
Tin Tức Cập Nhật :

[Video Nóng] Hàng ngàn bà con ngư dân bao vây UBND huyện Quỳnh Lưu truy tìm công an đánh người cướp của


Mời xem Video: [Video Nóng] Hàng ngàn bà con ngư dân bao vây UBND huyện Quỳnh Lưu truy tìm công an đánh người cướp của



Tình hình cực kỳ căng thẳng, hàng ngàn người dân Song Ngọc kéo lên bao vây UBND huyện Quỳnh Lưu đòi công lý phản đối công an đánh dân và cướp 200 áo NO FORMOSA là tài sản của Nhà thờ - 25-4-2017

Những kẻ hậm hực lạc lõng


Chủ tịch Hà Nội Nguyễn Đức Chung đối thoại với người dân Đồng Tâm

Mời xem Video: Tin Tức Thời Sự



Trong những ngày này, tôi theo dõi tin từ Đồng tâm, Mỹ Đức Hà Nội mỗi ngày không ít hơn 10 tiếng đồng hồ, vì nghề nghiệp của tôi là phải như thế. Lúc 14h45' ngày 22/4, tôi vô cùng bất ngờ và vui mừng về việc người dân xã Đồng tâm quyết định trao trả nốt 19 người bị bắt làm con tin từ ngày 15/4 cho ông Nguyễn Đức Chung, sau buổi làm việc chính thức gặp gỡ các đại diện của bà con dân Đồng tâm tại UBND. Sự việc diễn ra nhanh chóng ít ai có thể ngờ.

Lúc ấy ý nghĩ đầu tiên của tôi mừng vì bà con mình ở Đồng tâm đã thoát được hiểm họa, tránh được đổ máu, cuộc sống của làng quê vùng ngoại thành Hà Nội sẽ trở lại bình yên. Và sau đó tôi thầm cảm ơn ông Chủ Tịch Hà Nội Nguyễn Đức Chung, vì ông Chung đã tháo ngòi nổ của một cuộc xung đột rất có thể là đẫm máu còn hơn Văn Giang, Tiên Lãng... trước đây.

Lịch sử cầm quyền của đảng CSVN đã cho thấy, các vụ việc bắt con tin là nhân viên công vụ sẽ phải trả bằng một cái giá vô cùng đắt, kể cả tính mạng.

Việc Chủ tịch Hà Nội Nguyễn Đức Chung đã viết tay và ký Bản cam kết với dân Đồng Tâm (Mỹ Đức) với 3 nội dung chính: Thanh tra làm rõ đất Quốc phòng và đất Nông nghiệp bảo vệ quyền lợi cho dân; Không truy cứu hình sự với nhân dân Đồng Tâm; Xử lý nghiêm minh vụ làm gãy xương của cụ Lê Đình Kình, đó là những quyết định không chỉ hợp lòng dân, mà còn phù hợp với tình hình căng thẳng ở Đồng tâm vào thời điểm đó.

Đây là một hành động đúng đắn của Chủ tịch Hà Nội Nguyễn Đức Chung, với tinh thần lấy dân làm gốc nếu như ông Chung thành tâm. Nói như vậy vì, cũng như đa số dân chúng trong đó có cả tôi đã mất hết lòng tin vào cái đảng đang cầm quyền ở cái xứ Lừa này. Tổ quốc thân yêu của tôi bị mang danh là xứ Lừa cũng là tội của cái đảng chuyên lừa bịp này, họ là bè lũ chuyên nói một đằng làm một nẻo. GIờ thử hỏi còn có mấy người tin họ nói nữa?

Tình hình Đồng tâm sắp tới đây sẽ ra sao, hay nó cũng chỉ là việc khởi đầu cho một cú lừa mới, như đã từng xảy ra tại Thái Bình năm 1997? Nghĩa là khi ấy phía chính quyền cũng hòa hoãn, cũng an dân để sau đó chờ cho lửa đấu tranh của dân chúng đã nguội xuống, thì chính quyền phản thùng, lật lọng bắt đầu cho việc bắt bớ, giam giữ và tù đầy đối với các nhân tố lãnh đạo. Cái đó còn ở phía trước, nhưng ít nhất tới hôm nay, ngày mai hay một vài tuần tới, có lẽ sự yên bình lại trở lại với đất Đồng Tâm. Người dân Đồng Tâm và kể cả tôi cũng chỉ mong muốn được như thế. Song tôi tin, ông Nguyễn Đức Chung một chính trị gia trẻ đang có uy tín, con đường chính trị của ông Chung còn thênh thang nên sự lật lọng sẽ có phần ít hơn so với kẻ khác.

Tuy vậy sự việc vừa kết thúc ở Đồng Tâm hôm qua, với kết quả là mọi bên cùng thắng cũng làm cho không ít người không hài lòng vì ngòi nổ Đồng tâm đã được gỡ bỏ. Trong bài viết "Nỗi niềm của Chung con" gần đây tôi đã viết: "Phe đảng ông Trọng, nhất là một vài lãnh đạo Công An Hà Nội bây giờ đang tìm mọi cách làm rối vụ Đồng Tâm Mỹ Đức. Âm mưu của họ là, càng làm tình hình rối càng tốt với hy vọng có thời cơ là sẽ điều động Công an hay kể cả Quân đội ra tay đàn áp. Có người chết càng tốt, để kiếm cớ "xơi" Chung con trong dịp Hội nghị TW 5 lần này.". Song những người như tôi vừa nói, không nằm trong các phe nhóm chính trị trong đảng cầm quyền.

Hãy nghe họ phàn nàn hằn học, hậm hực đại loại như như: "Chung hành xử quá tệ, sai lè về luật và sẽ tạo nhiều tiền lệ xấu"; hay "truy cứu trách nhiệm hình sự hay không là việc của bên công tố , không thuộc quyền hạn của Chung. Hơn nữa tờ giấy của Chung không có dấu công chứng nên càng vô giá trị trước pháp luật"; hoặc "nếu Chung làm đúng những gì mình viết, can thiệp vào các anh tư pháp thì Chung sẽ vi hiến. nó chứng minh sự lộng quyền, chuyên quyền, thiếu chuyên nghiệp của chính quyền, rộng hơn là nhà nước" v.v... và v.v...

Những ý kiến tương tự như vậy, đã cho thấy sự thiếu hiểu biết về chính trị của những người này, họ mang sự việc ở Đồng tâm đặt trong một hệ quy chiếu pháp trị ngoài lãnh thổ Việt Nam. Họ không hiểu và quên một điều rằng, xã hội Việt Nam hiện nay là một xã hội vô pháp; luật pháp có nhưng viết một đằng thì thực thi một nẻo. Quan trọng hơn, thể chế chính trị ở Việt Nam đã quy định rất rõ, đảng CSVN là lực lượng lãnh đạo toàn diện Nhà nước và xã hội theo cơ chế tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Và họ không biết rằng, mô hình tổ chức chính trị ở Việt Nam được sắp xếp theo trục dọc với Đảng CSVN đứng ở vị trí cao nhất, và không chấp nhận tam quyền phân lập vốn là nền tảng chính trị của hầu hết các quốc gia trên thế giớ. Chưa hết, tại Hội nghị TW 5 khóa 11 (2012) Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã thẳng thừng bác bỏ nguyên tắc tam quyền phân lập và khẳng định "quyền lực nhà nước là thống nhất; có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp".

Nói thế để thấy, quyết định của Chủ tịch Nguyễn Đức Chung phải là một quyết định của tập thể nhiều người, đã bàn đi tính lại rồi đi đến thống nhất, chứ một mình cá nhân ông Chung chắc chắn không có đủ quyền hành quyết định việc đó. Nói như vậy để dành cho những ai nếu kiến thức chính trị tối thiểu như vậy còn chưa hiểu, thì xin bớt ba hoa để làm trò cười cho thiên hạ.


Mời xem Video: Tin Tức Thời Sự




Theo dõi các diễn biến trong vụ việc Đồng tâm vừa qua cũng thấy một số kẻ, "miệng Nam mô, nhưng bụng thì một bồ dao găm". Họ tìm mọi cách kích động nhiều phía với hy vọng ở Đồng tâm sẽ xảy ra đụng độ, đổ máu và đẩy sự việc ra ngoài tầm kiểm soát của các bên. Có thể nói, họ là những kẻ ác.

Đã là người tử tế thì con người ta sống phải có cái tâm, cái đức, phải coi nỗi đau, sự mất mát của người khác cũng là nỗi đau của mình và luôn luôn đặt địa vị mình vào địa vị của người khác trong mọi sự ứng xử. Có như thế mới hy vọng xây dưng được một xã hội chúng ta đang sống tươi đẹp, và đáng sống.

Cùng là người Việt với nhau cả, nếu chúng ta chia bè kéo cánh đánh nhau thì sẽ trở thành kẻ thù, nhưng nếu thương yêu nhau thì chúng ta sẽ là anh em và nếu biết thứ tha thì chúng ta mãi là bạn bè. Do vậy các bên phải tận dụng cơ hội đàm phán, ngồi xuống nói với nhau những điều phải trái là điều cần phải làm. Câu chuyện tháo ngòi nổ ở Đồng Tâm của Chủ tịch Nguyễn Đức Chung đã là như thế

Cuộc sống của chúng ta có những tình huống chỉ đơn giản là như vậy, phải sống sao cho "Người yêu người, sống để yêu nhau". Nếu muốn mọi người yêu mình, thì trước hết mình phải biết yêu mọi người, kể cả việc rộng lòng với kẻ thù của mình nữa.

Ngày 23 tháng 04 năm 2017

© Kami
Blog RFA

Mẫu hạm của Mỹ có thể bị bắn chìm, theo truyền thông Bắc Hàn


Hàng không mẫu hạm USS Carl Vinson. (HÌnh: Sean M. Castellano/US Navy via Getty Images)

Mời xem Video: Tin Tức Thời Sự



BÌNH NHƯỠNG, Bắc Hàn – Bắc Hàn hôm Chủ Nhật nói sẵn sàng bắn chìm hàng không mẫu hạm USS Carl Vinson của Mỹ để chứng minh sức mạnh quân sự, trong lúc có hai tàu của Hải Quân Nhật tham gia tập trận với chiến đoàn Hoa Kỳ ở phía Tây Thái Bình Dương, theo hãng thông tấn Reuters.

Ngoài ra, Reuters trích dẫn hãng thông tấn Yonhap của Nam Hàn cho biết, Bình Nhưỡng vừa bắt thêm một người Mỹ nữa vào hôm Thứ Sáu, và đây là người thứ ba đang bị Bắc Hàn giam giữ.

Tổng Thống Donald Trump là người điều động chiến đoàn bao gồm hàng không mẫu hạm USS Carl Vinson và một số khu trục hạm đến vùng biển bán đảo Triều Tiên để phản ứng lại tình hình căng thẳng, liên quan đến chương trình thử vũ khí nguyên tử và thử hỏa tiễn của Bắc Hàn, cũng như đe dọa của Bình Nhưỡng, đòi tấn công Hoa Kỳ và các quốc gia đồng minh của Mỹ tại Châu Á.

Hoa Kỳ hiện chưa xác nhận nhóm tàu này ở đâu trong khi chúng đang đi vào khu vực căng thẳng.

Hôm Thứ Bảy, trong lúc thăm Úc, Phó Tổng Thống Mike Pence của Mỹ nói rằng chiến đoàn này sẽ đến khu vực “trong vài ngày tới,” nhưng không đưa ra chi tiết.

Trong khi đó, Bắc Hàn vẫn không lùi bước.

“Lực lượng cách mạng của chúng tôi sẵn sàng đánh chìm hàng không mẫu hạm chạy bằng nguyên tử của Mỹ với chỉ một cuộc tấn công,” nhật báo Rodong Sinmun, cơ quan ngôn luận của đảng Lao Động cầm quyền, viết như vậy trong một bài bình luận.

Tờ báo này gọi hàng không mẫu hạm của Mỹ là “con vật ghê tởm” và nói rằng chỉ một vụ tấn công thôi là sẽ thấy “một ví dụ thật sự cho thấy sức mạnh của quân đội chúng tôi.”

Bài bình luận này được đăng ở trang ba, sau hai trang có hình Chủ Tịch Kim Jong Un thanh tra một trại nuôi heo.

Vào Thứ Ba, 25 Tháng Tư tới đây, Bắc Hàn sẽ kỷ niệm 85 năm ngày thành lập quân đội, và nhiều người tin rằng đây có thể sẽ là dịp để Bình Nhưỡng thử vũ khí nguyên tử để phô trương.

Hôm Thứ Sáu, một người Mỹ gốc Nam Hàn, khoảng 50 tuổi, chỉ có tên họ là Kim, bị bắt tại phi trường Bình Nhưỡng khi ông này chuẩn bị rời Bắc Hàn.

Người đàn ông này đã ở Bắc Hàn khoảng một tháng, để thảo luận các hoạt động cứu trợ, theo Yonhap.

Người đàn ông này là một cựu giáo sư đại học khoa học và kỹ thuật Yanbian University (YUST), theo Yonhap, dựa trên nguồn tin riêng. YUST, một đại học ở Trung Quốc, có chi nhánh ở Bình Nhưỡng.

Một giới chức thuộc cơ quan tình báo quốc gia Nam Hàn nói không biết có vụ bắt này.

Điện thoại gọi đến đại học YUST không có ai trả lời.

Trước đó, Bắc Hàn bắt giữ hai người Mỹ.

Otto Warmbier, một sinh viên 22 tuổi, bị Bắc Hàn bắt hồi Tháng Giêng năm ngoái, và bị kết án 15 năm lao động khổ sai, vì bị tố cáo “định ăn cắp một biểu ngữ tuyên truyền.”

Hồi Tháng Ba, 2016, ông Kim Dong Chul, 62 tuổi, người Mỹ gốc Nam Hàn, bị kết án 10 năm lao động khổ sai, vì “âm mưu lật đổ chính quyền.”

Các quốc gia khác lên tiếng

Hôm Chủ Nhật, ngoại trưởng Trung Quốc kêu gọi hoàn toàn phi nguyên tử hóa bán đảo triều tiên, trong lúc căng thẳng trong vùng gia tăng, theo hãng thông tấn AFP.

“Trung Quốc mạnh mẽ ủng hộ phi nguyên tử hóa khu vực vì ổn định và hòa bình,” Ngoại Trưởng Vương Nghị nói với các phóng viên trong lúc đang có mặt tại Athens họp với Ngoại Trưởng Nikos Kotzias của Hy Lạp.

“Trung Quốc có thể không có giải pháp cho vấn đề này…nhưng chúng tôi hài lòng là ngày càng có nhiều quốc gia chấp nhận quan điểm của chúng tôi,” ông Vương nói thêm.

Tổng Thống Donald Trump lâu nay đòi Trung Quốc có hành động mạnh mẽ hơn để ép Bắc Hàn từ bỏ chương trình nguyên tử và chương trình hỏa tiễn.

Trong lúc có mặt tại vùng Đông Á tuần trước, Phó Tổng Thống Mike Pence cảnh báo rằng Hoa Kỳ “không loại trừ bất cứ khả năng nào” để ngăn chặn tham vọng nguyên tử của Bắc Hàn.

Úc và New Zealand cũng lên tiếng mạnh mẽ chỉ trích Bắc Hàn hôm Chủ Nhật, sau khi Bình Nhưỡng đe dọa sẽ tấn công nguyên tử, và yêu cầu Úc phải suy nghĩ hai lần trước khi “nghe lời Mỹ một cách mù quáng và sốt sắng.”

Đe dọa của Bắc Hàn được đưa ra trong lúc ông Mike Pence thăm viếng Úc trong chặng công du 10 ngày qua vùng Châu Á-Thái Bình Dương.

“Nếu Úc tiếp tục theo chân Mỹ để cô lập Bắc Hàn…đây sẽ là một hành động tự sát,” một phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Bắc Hàn nói, sau khi Ngoại Trưởng Julie Bishop của Úc gọi nhà nước độc tài này là một “đe dọa nghiêm trọng.”

Mời xem Video: Toàn cảnh Chủ tịch Hà Nội Nguyễn Đức Chung trực tiếp đối thoại với người dân xã Đồng Tâm 22/04/2017



Phán ngôn viên này, qua cơ quan thông tấn chính thức KCNA của Bắc Hàn, cảnh cáo bà Bishop nên “nên nghĩ kỹ về hậu quả.”

New Zealand, đồng minh thân thiết nhất của Úc, cũng tố cáo Bắc Hàn có “ý đồ xấu.”

Ông Gerry Brownlee, bộ trưởng quốc phòng New Zealand, nói với đài truyền hình nước này rằng người ta biết rất ít về chế độ của ông Kim Jong Un, nhưng “hiểu rằng, phía sau ông, là một cỗ máy rất lớn, bao gồm những người xấu xa như nhau.” (Đ.D.)

Đỗ Dzũng
Người Việt

Bộ Trưởng Nội An Mỹ: Giới ‘dreamer’ phạm pháp cũng bị trục xuất


Khi xuất hiện trong chương trình “Face the Nation” của đài CBS, ông Kelly cho hay: “Nếu tổng thống Mỹ nói ra điều gì, thì bạn nên tin vào lời của ông.”

Nhân viên quan thuế-biên phòng Mỹ cỡi ngựa đi tuần gần cửa biên giới Otay Mesa, tiểu bang California hôm 21 Tháng Tư. (Hình: Sandy Huffaker/Getty Images)

Mời xem Video: Tin Tức Thời Sự



WASHINGTON, DC – Bộ Trưởng Nội An John Kelly hôm Chủ Nhật khẳng định rằng thành phần di dân bất hợp pháp vào Mỹ khi còn nhỏ tuổi, được gọi là “dreamer” hay “DACA” có thể an tâm vì các chiến dịch bố ráp chống di dân lậu sẽ không nhắm vào họ, như Tổng Thống Donald Trump vừa cho biết mới đây.

Tuy nhiên, ông Kelly cũng nói rằng những kẻ phạm luật, dù là ‘dreamer’ chăng nữa cũng sẽ bị trục xuất như một trường hợp mới xảy ra gần đây.

Khi xuất hiện trong chương trình “Face the Nation” của đài CBS, ông Kelly cho hay: “Nếu tổng thống Mỹ nói ra điều gì, thì bạn nên tin vào lời của ông.”

Ông Kelly cũng nói thêm rằng: “Trong 90 ngày kể từ khi tôi giữ nhiệm vụ này, chúng tôi chưa hề truy bắt thành phần DACA.”

Ông Kelly trong buổi xuất hiện trong chương trình “Face the Nation” cũng giải thích trường hợp trục xuất một thành phần “dreamer” là Juan Manuel Montes, 23 tuổi, từng sống ở California.

Ông nhắc lại rằng các di dân bất hợp pháp có thể bị trục xuất nếu họ phạm luật Mỹ.

“Những người trong diện DACA, nếu họ phạm luật thì chúng tôi sẽ trục xuất họ. Tôi nghĩ cho đến nay có khoảng ba hay bốn trường hợp này,” Bộ Trưởng Kelly cho hay.

Giới hữu trách bắt giữ Montes ở thành phố Calexico, California, ở sát biên giới Mexico sau khi nói rằng anh ta từ phía Mexico vào Mỹ bằng cách nhảy qua một hàng rào.

Mời xem Video: Đồng Tâm chưa xong, chống cướp đất lại bùng phát lan rộng tại nhiều nơi, Bộ Chính trị họp khẩn cấp?



Ông Kelly không bày tỏ sự cảm thông gì trong trường hợp của Montes, nói rằng anh ta đánh mất quy chế DACA của mình khi phạm luật. (V.Giang)

Người Việt

Phiên bản Tượng Đài Chiến Sĩ Việt-Mỹ được trưng bày vĩnh viễn tại Ngũ Giác Đài


Phiên bản Tượng Đài Chiến Sĩ Việt-Mỹ. (Hình: Nguyễn Tuấn cung cấp)

Mời xem Video: Tranh dành Quyền lực



WESTMINSTER, California – Phiên bản của Tượng Đài Chiến Sĩ Việt-Mỹ tại Westminster, California, cao 24 inch, do điêu khắc gia Nguyễn Tuấn sáng tác, vừa được đưa đến Ngũ Giác Đài và trưng bày vĩnh viễn tại đây.

Đây là một vinh dự lớn lao cho ông Tuấn cũng như cho cộng đồng người Việt tị nạn tại Mỹ.

“Công đầu trong việc này là của chú Tony Lâm,” ông Tuấn khẳng định.

Ông Tony Lâm, cựu nghị viên Westminster, trình bày đầu đuôi cớ sự về việc này rằng bảy năm về trước, ông tổ chức một buổi họp mặt tại khu Little Saigon với những giới chức ông từng có quan hệ từ hồi còn ở Việt Nam.

“Trong đó có ông Rufus Phillips, giám đốc Nông Thôn Vụ (Rural Affairs) vào những năm đầu thập niên 1960,” ông Tony nói.

Được ông Tony đưa đến viếng thăm Tượng Đài Chiến Sĩ Việt-Mỹ tại Westminster, ông Phillips có ấn tượng sâu sắc với tượng đài này, nhất là sau khi được biết tác giả là người gốc Việt.

Bảy năm sau, ông Phillips cho ông Tony hay Ngũ Giác Đài muốn được trưng bày phiên bản Tượng Đài Chiến Sĩ Việt-Mỹ nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày quân đội Hoa Kỳ đổ bộ tại Đà Nẵng, chính thức tham chiến tại Việt Nam.

“Tôi phải liên lạc khắp nơi để tìm anh Tuấn vì từ trước đến giờ đâu có dịp nào để gặp anh ấy đâu. Hỏi hết người này đến người kia, sau cùng mới tìm ra anh ấy,” ông Tony kể.

Ông Tuấn kể: “Qua sự giới thiệu của chú Tony, bà Devon K. Hardy, đại diện Ngũ Giác Đài, liên lạc với tôi để xúc tiến công việc.”

Phiên bản Tượng Đài Chiến Sĩ Việt-Mỹ. (Hình: Nguyễn Tuấn cung cấp)

Không phải đã làm được tượng lớn rồi thì làm tượng nhỏ là chuyện… nhỏ.

Ông Tuấn tâm sự: “Tưởng là dễ, mà công việc lại trở nên khó khăn, vì một người nghệ sĩ không bao giờ hoàn toàn thỏa mãn với sáng tác của mình. Bởi vậy, gọi là phiên bản cho gọn thôi, chứ thật ra tôi phải sáng tác lại. Có những chi tiết không ai để ý đến, nhưng tôi vẫn muốn sửa lại cho hoàn thiện hơn. Cái tôi giữ lại từ tượng đài lớn chỉ là bố cục mà thôi.”

Nhưng đây chỉ mới là giai đoạn đầu thôi. Giai đoạn kế là phải quyên góp tiền để đúc phiên bản với chiều cao là 24 in.

Ông Tuấn nói: “Đây là một vinh dự cho cả cộng đồng người Việt chúng ta nên tôi sẵn sàng làm việc miễn phí. Nhưng tôi cần tiền để đúc tượng. Chú Tony và tôi cũng đóng góp một ít tiền. Sau đó thì chú kêu gọi thêm.”

“Công sức của anh Tuấn mới đáng kể chứ số tiền để đúc tượng thì có đáng chi. Tôi chỉ kêu gọi vài vị mạnh thường quân là được thôi. Và họ sẵn sàng đóng góp ngay,” ông Tony nói.

Số tiền đúc tượng nhỏ bằng đồng này chỉ là $9,000, ông Tony cho hay.

Ông Tuấn nói: “Tôi rất hãnh diện. Hãnh diện vì trong cả một hành lang trưng bày của Ngũ Giác Đài, chỉ có một bức tượng duy nhất mà thôi, bức tượng của người Việt.”

Ông Tuấn, tác giả của Tượng Đài Chiến Sĩ Việt-Mỹ tại Westminster và bây giờ có phiên bản tại Ngũ Giác Đài, nói: “Tôi chưa bao giờ nghĩ đây là sáng tác của riêng tôi. Tôi luôn nghĩ rằng đây là tài sản chung của cộng đồng người Việt tị nạn cộng sản chúng ta.”

Không có tượng nào khác trong phòng trưng bày của Ngũ Giác Đài. (Hình: Nguyễn Tuấn cung cấp)

Phiên bản Tượng Đài Chiến Sĩ Việt-Mỹ sẽ được trưng bày vĩnh viễn tại Ngũ Giác Đài, nơi hàng năm có trên 200,000 người thăm viếng.

Tốt nghiệp trường Art Institute of Southern California, nguyện vọng của ông Tuấn là muốn để lại những sáng tác của mình cho hậu thế.

Ông còn muốn thực hiện một công trình vô cùng qui mô để vinh danh những thuyền nhân vượt biển và đang chờ dịp để bắt tay vào việc.

Mời xem Video: Đồng Tâm chưa xong, chống cướp đất lại bùng phát lan rộng tại nhiều nơi, Bộ Chính trị họp khẩn cấp?



Tượng Đài Chiến Sĩ Việt-Mỹ tại Westminster, do điêu khắc gia Nguyễn Tuấn thực hiện, được khánh thành ngày 27 Tháng Tư, 2003 để kịp làm lễ tưởng niệm ngày 30 Tháng Tư năm ấy.

Đằng-Giao
Người Việt

Nước mắt, nước biển và Thuyền Nhân Việt


Mắt Nào Không Lệ Chảy.

Mời xem Video: Tranh dành Quyền lực



Chiều hôm ngày 30 tháng 3, chúng tôi, 56 người, gặp nhau ở một phi trường nhỏ trong một tỉnh nhỏ, có tên là Hatyai, của nước Thái Lan. Trong 56 người, chỉ có 4 người: vợ chồng tôi, Trùng Dương, anh Michael ở Texas làm cho đài Truyền Hình Saigon-Houston không phải thuyền nhân. Số đông thuyền nhân tham gia là các anh chị đến từ Úc Châu và rất nhiều người đã từng đi Songkla và Bidong hai, ba lần. Anh chị Dương Phục và Vũ Thanh Thủy cũng là thuyền nhân nhưng đây là chuyến đi đầu tiên của anh chị đến đảo Kra. Cô Ngọc Ân, phóng viên của đài Little Saigon-Radio, Kim Hoàng và Chấn Hồng của đài VietFace TV từ Úc cũng có mặt trong chuyến đi này.

Chúng tôi may mắn có ba Linh Mục , Cha Nguyễn Hùng đến từ Đài Loan, cha Phạm Hồng từ Úc và Phạm Tâm (cũng còn là Bác Sĩ Y Khoa) đến từ Houston, Hòa Thượng Thích Huyền Việt đến từ Houston, Thầy Tây Tạng Geshe Gawa đến từ Úc.

Trong nhóm còn một Bác Sĩ trẻ nữa là Kenneth Nguyễn đến từ California.

Trại Tỵ Nạn Songkla

Chuyến hành hương đầu tiên của chúng tôi, bắt đầu trở lại thăm nền trại tỵ nạn Songkla. Từ thành phố ra tới địa điểm đó khoảng một tiếng lái xe.

Xe đi ra ngoại ô qua những vùng trồng mía, xoài và rất nhiều cánh rừng trồng cây cọ (Palm) dùng cho việc thủ công nghệ. Nhà cửa giống hệt những vùng quê Việt Nam thời chưa đổi mới. Cũng nhà tôn, nhà lá, thỉnh thoảng chen vào một ngôi nhà ngói, bên cạnh bụi chuối, cây hoa sứ. Cũng những con chó trước cửa sủa bâng quơ, những con gà trống nghiêng đầu ngơ ngác, thằng bé ở trần vừa chạy vừa ngã. Chiếc xe như mang chúng tôi trở về quê xưa ngày cũ.

Chiếc xe ca chở hơn 50 người đậu lại, biển xanh trước mặt, nắng gắt trên đầu. Mắt mở to, mọi người xôn xao chỉ tay về phía bên phải.

Cứ đi vào đây, hướng này đúng rồi. Sẽ thấy cái giếng.

Cái giếng mấy năm trước tôi trở lại còn thấy, bây giờ đã bị biển xâm thực rồi. Biển đã mang thêm cát vào, đã chôn mất miệng giếng, nhưng còn cây đa. Chính nơi này là trại tạm cư cho thuyền nhân chờ được định cư ở đệ tam quốc gia. (mặc dù cây đó trông giống một cây thùy dương hơn là cây đa. Có thể họ muốn gọi như thế để có một chút hơi hướm quê nhà) .

Vùng bờ biển, nền lều trại dựng ngày trước đã được dọn sạch không còn vết tích, một con đường trải nhựa, chạy song song với biển đã như có sẵn tự bao giờ. Chúng tôi tới gốc cây đa đó, vẫn thấy dấu thờ cúng chưa cũ lắm, có bát cơm đổ nghiêng ngả, hạt cơm vừa khô, có nhang đèn vứt lăn lóc, những bức tượng đổ vỡ, những đồ thờ cúng kiểu Thái cái gẫy, cái bể.

Tác giả và Miếu Thờ ở Songkhla.

Ba linh mục và nhà sư kêu gọi mọi người tụ họp lại cùng thay nhau đọc kinh, tụng niệm.

Nhang được thắp lên, nước mắt thi nhau ràn rụa. Tên Chúa, tên Phật được thốt trên môi mọi người, để cầu cho người chết , kẻ lưu vong. Sau phần tụng niệm, cha Hồng bắt đầu giọng cho mọi người hát theo.

Giữa buổi trưa nắng chang chang, không một ngọn gió, tiếng hát của hơn năm mươi người hát vang vang như muốn át tiếng sóng biển đang đập vào bờ:

Tự Do ơi Tự Do, tôi trả bằng nước mắt
Tự Do hỡi Tự Do, anh trao bằng máu xương
Tự Do ơi Tự Do, em trả bằng thân xác
Vì hai chữ Tự Do, ta mang đời lưu vong

(Nam Lộc)

Mọi người xúm lại chụp hình. Các anh, chị làm phát thanh, truyền hình bắt đầu công việc của mình. Có người đi tách ra riêng một chỗ thì thầm với biển, với dĩ vãng, với kỷ niệm.

Bao nhiêu người đã được định cư ở nơi êm ấm? Bao nhiêu xác đã trôi giạt

vào bãi bờ này?

Nước mắt, nước biển, trôi đi hai hàng oan nghiệt
Tóc bạc, tóc xanh, chìm sâu một khối tủi hờn.

Tôi cúi xuống vốc lên một nắm cát, nhặt một chiếc vỏ ốc đã vỡ, quay lưng lại với biển, chân thấp chân cao, vừa đi vừa lau nước mắt.

Nơi đây cũng đã dánh dấu bao cuộc tình tỵ nạn. Gặp nhau như rong rêu giạt vào bờ, bám lấy nhau rồi lại phải buông nhau ra vì mỗi người phải đi định cư ở hai nơi khác nhau, hay người đi người vẫn ở lại ngóng trông. Tương lai là một trang giấy trắng chờ tay ai vẽ xuống.

Chúng tôi rời bãi này để tới một bờ khác.

Tha Sala và 11 Cô Gái Việt

Trưởng nhóm, anh Hùng Lê cất tiếng:
  • Bây giờ Hùng đưa các cô chú đến thăm đền thờ Mười Một Cô.
Đó là chuyện 11 cô gái Việt, không một mảnh áo quần, bị trói cổ vào nhau, thả nổi trên biển. Xác các cô trôi tới bãi Tha Sala này, được người địa phương thương tình vớt vào chôn cất. Ai nghe cũng phải xót thương, rùng mình, uất hận.

Những nàng thiếu nữ như hoa đỏ
Một sớm theo nhau bước xuống thuyền
Hoa bỗng rơi ra từng cánh mỏng
Thả vào lòng biển máu oan khiên

Tha Sala không chỉ vớt Mười Một Cô, Tha Sala còn vớt thêm bao nhiêu cái xác trôi đơn lẻ, trôi hai ba, trôi năm bẩy, giạt vào bờ.

Người đàn bà Thái khoảng 60 tuổi, gia đình hiện sống trên bãi đã lập một miếu thờ cho những vong linh này. Mỗi ngày bà mang ra miếu một bát cơm trắng, một chén nước lạnh và mấy cây nhang.

Đây là câu chuyện của bà: Khi gia đình bà tới ở trên bãi này thì vẫn còn rất hoang vu. Họ đào đất dựng nhà, chạm phải nguyên một chiếc thuyền chôn sâu trong cát. Họ tin là thuyền của người vượt biển bị đắm, sóng đánh vào và cát phủ lên. Bà cũng theo người lớn tuổi hơn ra biển mỗi lần có xác giạt vào. Khi đó tuổi của bà, khoảng tuổi các cô con gái Việt này. Gia đình bà dựng một ngôi đền nhỏ thờ vong linh của thuyền nhân và 11 cô gái. Chiếc thuyền cứ thế để nguyên trước cửa đền. Theo năm tháng, biển xâm thực và bão tố, ngôi đền chỉ còn lại cái nền vỡ và cái thuyền chỉ còn lại một mảnh ván dài, nhưng bà vẫn cơm trắng, nước lạnh và thắp nhang mỗi ngày.

Người Việt bị người Thái giết, thì cũng chính người Thái thờ cúng những oan hồn người Việt. Có phải đó là sự đền bù của đất trời không?

Sau Tha Sala, chúng tôi được đưa tới một địa điểm gần bờ biển phía lên đảo Koh Kra.

Nơi dừng chân là chùa Wat Samphreak, trong chùa còn có một ngôi trường Tiểu Học. Tối hôm đó chúng tôi được ngủ lại trong chùa. Chúng tôi trải chiếu của nhà chùa, nằm bình an trong chánh điện, dưới chân những tượng Phật. Tôi trăn trở vì nóng, vì muỗi hay vì câu chuyện thương tâm của mười một cô gái bất hạnh. Nghe nói tuổi của các cô khoảng từ 19 tới 23. Ôi cái tuổi tinh khôi, mơ mộng và tràn đầy ước vọng!

Biển gọi em hay em gọi biển
Sóng đang reo sao bỗng khóc gọi hồn.

Nước mắt tôi ứa ra, trái tim tôi thổn thức. Tôi thương các em, thương cha mẹ các em, thương cho dân tộc tôi quá đỗi! Chúa ở đâu? Phật ở đâu?

Lên thuyền ra đảo Koh Kra

Bốn giờ sáng ngày mồng 1 tháng 4, từ bãi của làng chài lưới Hua Sai, thuộc Nakhar Si Thammarat, cách đảo Koh Kra 80 cây số, chúng tôi lên thuyền ra biển đi tới đó.

Tại bãi biển.

Trên bãi biển tiếng gọi nhau khe khẽ, tiếng chân trên cát, ánh đèn pin lóe lên, dắt tay nhau, chúng tôi leo lên những chiếc thuyền tam bản của dân đánh cá Thái Lan, thuyền không mui, chạy bằng máy đuôi tôm.

  • Sao đi sớm thế?
  • Giờ này biển êm, không có sóng
  • Chạy bao lâu thì tới?
  • Khoảng hơn 3 tiếng

    Ngồi sát vào nhau, tám người một thuyền. Bắt đầu tách bờ tiến về đảo Koh Kra.
Có tiếng nói khẽ cất lên:
  • Hồi đi vượt biên, chúng em đi bằng thuyền nhỏ như thế này, gọi là taxi, đưa ra ngoài có thuyền lớn hơn đón.
  • Nhưng hồi đó phải ngậm miệng, không được nói, và rất sợ bị bắt lại, cộng thêm nỗi sợ bão biển, sợ hải tặc và chúng em chẳng ai có áo phao mặc như thế này.
Tôi ngồi co rúm người lại, thuyền đang chạy, nước biển bắn tung tóe lên mặt, những hạt muối mặn trên môi. Trời vẫn tối chưa nhìn tỏ mặt nhau. Biển mênh mông, biển tối om, tôi bắt đầu hiểu mang máng thế nào là nỗi sợ của người vượt biển. Nếu thuyền lật bây giờ, cũng khó lòng mà tìm cứu được nhau trong bóng tối. Đây thực ra mới là vịnh chưa ra tới biển.

Trời dần sáng. Lên tới bãi san hô của đảo Koh Kra thì sáng hẳn. Bờ biển này không có cát, chỉ toàn những mảnh san hô, nên không thể đi chân trần được. Năm 1979 đã có tới hơn 2000 thuyền nhân bị hải tặc nhốt giam ở đây. Vợ chồng chị Vũ Thanh Thủy và anh Dương Phục cùng nhóm gần 200 người đã trốn hải tặc 21 ngày đêm ở đây. Những con thú mang hình người đã hành hạ thuyền nhân Việt ở mức độ dã man ngoài sự tưởng tượng của một đầu óc bình thường.

Hàng ngàn người đã bị hải tặc giam cầm trên đảo này, con số người chết ở đây không ai biết rõ là bao nhiêu? Bao nhiêu phụ nữ đã bị hãm hiếp, bao nhiêu người chồng, người yêu, cha mẹ, anh trai, bất lực và bất hạnh trước thảm nạn dưới tay hải tặc. Chỉ có Trời mới biết con số chính xác này.

Những cô gái nạn nhân này chịu nhiều khổ hạnh khác nhau. Có người bị bắt đi luôn không biết còn sống hay đã chết. Nếu sống, họ có còn muốn tìm về gặp lại những người thân yêu nữa hay không? Hay họ tự coi như cuộc đời cũ đã chấm hết, đã xóa tên họ. Họ đã chấp nhận sống hai đời trong một kiếp.

Có người khi được cứu đã mang thai nhưng họ can đảm không bỏ đi giọt máu oan khiên đó, nó là một phần xương thịt họ. Họ mang con đến một nơi khuất lấp, xa lánh cộng đồng Việt, không gặp những người thân và tự nuôi con. Họ là những người mẹ vượt lên trên tất cả mọi thử thách mà định mệnh đã đặt vào họ.

Có cô gái chọn nhảy xuống biển chết thay vì bị hải tặc hiếp, nhưng số phận không cho cô chết, cô sống kẹt trong một khe đá, cô đói, khát, lạnh và bị cá tôm rúc rỉa hai chân cô trong 21 ngày. Khi cứu được cô ra, người ta nhìn thấy hai ống xương chân không da thịt.

Tôi đau đớn tự hỏi: Nước mắt nào khóc rửa được những vết thương này.

Nghe bước chân mình trên đá nhọn
nghe trăm gai sắc nhói trong tim
nghe sóng biển đập vào lồng ngực
nghe em gào khóc nỗi oan khiên.

Còn bao nhiêu câu chuyện nữa chưa được kể ra. Những người sống sót không ai muốn nhắc lại ký ức đau thương ấy. Họ im lặng, lãng quên đi hay thậm chí đã mất trí nhớ sau những tai nạn khốc liệt cho cả tâm hồn và thể xác ấy.

Tác giả Dương Phục và Vũ Thanh Thủy đã ghi lại trong hồi ký cả ngàn trang “Tình Yêu, Ngục Tù và Vượt Biển” của anh chị một phần nào những thảm cảnh trên đảo Koh Kra, những thảm cảnh mà Việt Nam và Thái Lan ngày nay đều cố tình phủ nhận và lẩn tránh. Tinh thần trách nhiệm và liêm sỉ của một quốc gia là chiếc hộp đen cả hai nước đều né tránh không muốn mở ra, nhìn lại.

Mỗi người bắt tay vào mỗi việc. Căng lều tập thể, căng lều cá nhân. Người lo dựng tượng Phật, tượng Đức Mẹ, Thánh Giá . Chúa thì phải lắp từng mảnh vào với nhau. (Những tượng này và vật liệu cần thiết đã được anh trưởng nhóm và một vài anh mang tới trước mấy hôm). Người lo mắc võng cá nhân, người lo treo những chiếc đèn lồng từ thân cây này sang thân cây kia. Sửa soạn sẵn cho một đêm hoa đăng trên đảo.

Chúng tôi xếp ra từ trong hộp những tấm mộ bia có khắc ghi tên tuổi thuyền nhân và những tấm khắc lời tưởng niệm (Được anh trưởng nhóm đặt mang từ Việt Nam sang), sửa soạn gắn những bia này chung quanh một bức tường tượng trưng cho khu nghĩa trang.

Buổi trưa nắng qua nhanh. Mỗi người được ăn trưa một tô mì gói, trước khi gạch, xi măng được chuyền tay nhau vác lên đồi tôn giáo. Một số người xuống tắm biển, có người leo lên thuyền trở về đất liền mua thêm vật dụng.

Công việc dựng tượng mới làm được một phần.

Buổi chiều, mọi người còn đang tất bật thì có hai chiếc thuyền tuần duyên từ đâu rẽ sóng tới, bốn năm người lính Thái có vũ trang nhảy vào bờ. Cô bé Nhung thông ngôn thiện nguyện (sống ở Thái) được gọi ra để trả lời những câu hỏi. Lính Thái bắt chúng tôi chia ra làm hai hàng, bên nam, bên nữ. Chúng tôi vội cho người đi mời mấy vị sư Thái (hiện tu hành trên đảo) xuống, cắt nghĩa rõ ràng là chúng tôi đến dựng tượng và thăm mộ thân nhân. Đất Thái là đất Phật, đi đến mỗi góc đường đều có am, miếu, thờ cúng, nên người dân Thái rất nể trọng các vị sư. Họ bắt chúng tôi cầm thông hành của mỗi người lên ngang mặt để họ chụp hình trước khi họ xuống thuyền. Sau khi nói chuyện với các nhà sư xong họ mới chịu xuống thuyền, rời bãi.

Khi họ đi rồi, một nỗi hoang mang dậy lên trong lòng những cựu thuyền nhân: Họ nói, không ai có thể biết được hải tặc có thông đồng với lính tuần duyên hay không? Nhưng chúng ta nhờ có các sư và hiện mang thông hành ngoại quốc nên tương đối an toàn.

Buổi chiều, cơn mưa to ập xuống, dù lều được dựng dưới những tán lá cây, nước mưa vẫn làm ướt đầm chúng tôi. Khổ nhất là công việc dựng tượng và gắn bia cho người đã chết không tiến hành được, cả những tấm ghi dòng tưởng niệm, cũng phải xếp vào thùng. Nhang đèn, gạch, xi măng, phải che chắn lại. Đêm “Hoa đăng tưởng niệm” như dự tính đã không thành.

Buổi tối vẫn còn mưa. Trong tình cảnh, dưới lưng là những mảnh san hô lớn, nhỏ, mấp mô, rồi nước chảy vào thành từng vũng, quần áo, dày dép ướt sũng. Nhưng các anh em cũng kéo nhau ra lều tập thể hát dưới những giọt mưa.

Tiếng hát hòa đồng với tiếng mưa. Trong ánh lửa nến nhỏ nhoi xoi không tỏ mặt người, họ hát cho nhau nghe, cho hồn ma bóng quế cùng nghe.

Có hay không! Những hồn ma bóng quế đang rủ nhau cùng về ngồi trong lều với những người đồng hương của mình?

Đêm vẫn rào rào đổ mưa xuống, nhóm 8 người chúng tôi, nằm giữa một tấm bạt to, gấp đôi lại, nửa trải dưới đất, nửa căng trên đầu, buộc hai góc bạt vào hai thân cây. Frank nằm sát ngoài cùng phía bên phải lều, rồi Tú, Trâm, Nguyệt, Trùng Dương, Thủy, Phục và ngoài cùng là Cha Tâm bìa bên trái. Tội nghiệp Cha Tâm và Frank là hai người nằm ngoài bìa lều, ướt như chuột từ đầu tóc, quần áo, đến giày dép.

Chắc chắn những nhóm khác, trong những chiếc lều nhỏ kiểu cắm trại, cũng ướt không kém gì chúng tôi. Nhưng may, sáng ra trời tạnh, phải dậy thu dọn và ra lều tập thể ngay để làm lễ liên tôn cho các vong linh trên đảo.

Lễ Cầu Siêu Trên Đảo Koh Kra.

Các vị chủ tế cùng mọi người cùng quay lưng ra biển, mặt hướng về phía trong đảo, nơi có những nấm mồ của hơn 100 thuyền nhân được biết và thêm bao nhiêu mồ không được biết đích xác, được chôn vùi từ những ngày tháng đó của mấy ngàn thuyền nhân bị hải tặc lùa vào đây.

Chương trình hành lễ được Cha Tâm đề nghị, bắt đầu làm lễ với các Sư Thái đang ở đảo được mời tới cử hành đầu tiên bằng tiếng Phạn, sau đó đến Hòa Thượng Thích Huyền Việt và phần cuối là Cha Hùng, Cha Tâm Cha Hương chia nhau dâng lời nguyện.

Vừa xong hai phần về Phật Giáo, tiếng các Cha bên Công Giáo chưa cất lên thì có tiếng hốt hoảng gọi vào lều.
  • Xin chấm dứt và sửa soạn ra về ngay, vì có tin báo bão sẽ tới lúc 3 giờ.
Mọi người hấp tấp đứng dậy chạy ra khỏi lều để thu dọn hành lý, riêng các Cha, Hòa Thượng và những người Công Giáo vẫn ở lại.

Cha Hùng vừa cất tiếng lên đã nghẹn ngào:

Giữa biển khơi lồng lộng gió bốn phương

Chúng tôi những người sống sót trong cuộc chiến tranh huynh đệ đau thương, cùng nhau về đây chiêu hồn lưu xứ.

Xin những đấng tối cao mở lòng đón nhận, vớt lên giữa bọt sóng lênh đênh những oan hồn, uổng tử.
Xin hãy mang hồn vào giấc ngủ ấm yên

Vòng tay Đức Mẹ, vòng tay Phật Bà xin hãy là những tấm khăn mềm thấm khô ngàn máu lệ.

Chúng tôi cúi đầu gửi lời kinh tiếng kệ

Tiếng chuông tiếng mõ gọi hồn về.

Giọng Cha trầm trầm, bi thương, nghẹn ngào, Cha đọc hết bốn trang bài “Văn Tế Muộn Màng.”
Rồi các Cha thay nhau đọc tên từng người trên những mộ bia mới làm. Sóng cứ nhô cao, bão cứ tới, mọi người vẫn bình tâm với những dòng kinh nguyện.

Chính lúc thứ tha là khi được tha thứ
Chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời
(Kinh Hòa Bình-Thánh Francis)

Chiếc lều cuối cùng được kéo xuống, gấp lại, gấp cả những giọt nước mưa còn đọng đêm qua. Tôi lấy tay quẹt trên giọt nước, nếm thấy mặn như những giọt lệ.

Những chiếc thuyền tam bản, không mui, rẽ sóng trở lại đất liền. Trời không nắng, âm u, nước biển bắn tung từng đợt lên mặt mũi, quần áo. Trưởng nhóm Hùng khóc rưng rức nhìn hòn đảo Koh Kra chìm dần vào những đám mây đen đang từ từ kéo tới. Anh khóc vì nhiệm vụ chưa hoàn tất. Chúng tôi phải mỗi người nói một câu an ủi anh, nhưng thật sự trong lòng chúng tôi cũng đang thổn thức. Mây đen kéo mỗi lúc một dầy sau lưng chúng tôi, hòn đảo như chìm từ từ xuống biển, tiếng kêu của những vong linh không vọng được lên trên tiếng sóng. Hòn đảo như biến mất, giữa kẻ chết và người sống một đường vạch dài và đen chia đôi.

Bidong và Những Ngôi Mộ Tập Thể Ở Mã Lai

Xe ca đi từ Thái Lan sang Mã Lai, mất 8 tiếng, qua những chặng đường biên giới, phải làm thủ tục nhập cảnh. Chúng tôi tới Mã Lai thì đã trời chiều.

Phụ nữ ở đây đa số mặc quốc phục nhiều màu sắc, khăn chùm đầu của họ rất đẹp, đủ màu, đủ kiểu quấn khác nhau chung quanh khuôn mặt. Bạn tha hồ ngắm mắt môi và nguyên khuôn mặt thân thiện, hay cười của họ. Hiếm hoi lắm mới thấy một vài bà đứng tuổi quấn mình kín mít trong tấm vải đen chỉ để lộ hai con mắt đủ nhìn bước chân mình. Đàn ông cũng thân thiện không kém, ông tài xế taxi hay nói về đời sống gia đình cho bạn nghe, về việc họ vẫn cầu nguyện năm lần một ngày, mỗi lần bảy phút.

Mã Lai là nước đã nhận gần 300 ngàn người tỵ nạn Việt Nam trong hai thập niên 1975-1995. Những thuyền nhân đi trong nhóm kể lại: nạn hải tặc Mã ít hơn hải tặc Thái rất nhiều. Lính Mã ban đêm có vào trại kiếm những cô vừa mắt mang về làm vợ, không ai can thiệp được. Nhưng lính Mã không hiếp phụ nữ và giết người ngay trước mặt mình.


Mã Lai cũng là nơi có nhiều xác thuyền nhân tạt vào bờ nhất nên cũng là nơi duy nhất có nhiều mộ tập thể. Những người bạn thuyền nhân trong nhóm nói có khi thuyền gần vào tới bờ vẫn bị lật như thường, người đến trước trên bờ có thể nhìn thấy người chết chìm trước mặt mà không làm gì cứu được. Về sau được người địa phương cho biết là khúc biển gần vào đến bãi, dọc biển đó có nhiều vũng xoáy, có khi thuyền vào trúng chỗ xoáy mà không biết, gặp biển êm thì thoát, khi biển lúc đó động thì chỗ xoáy hút thuyền vào, thuyền lật, không cách nào cứu được. Đó là trường hợp của rất nhiều chiếc thuyền đã nhìn thấy bờ mà không vào được bến.

Viếng Ngôi Mộ Tập Thể Đầu Tiên Ở Kelanta.

Mã cũng là quốc gia duy nhất có nhiều mộ tập thể của thuyền nhân, có đầy đủ lý lịch, vì họ chết gần bờ.

Ngôi mộ tập thể số 1 chúng tôi tới ở Balai Bachock thuộc tỉnh Terengganu, mộ đó có 46 người, trong đó có 3 em nhỏ.

Lần đầu tiên trong đời người, đứng trước một ngôi mộ tập thể. Ngôi mộ chơ vơ trên đồng đất nước người với những cái tên Việt Nam, tôi không cầm nổi lòng mình, nghe nôn nao, quặn đau trong ruột, nước mắt ràn rụa. Từ bao lâu nay chỉ nghe tiếng “Thuyền Nhân” chỉ nhìn “HìnhThuyền Nhân”, cái thương cảm đó có đấy, nhưng chỉ thoáng ngậm ngùi như vết xước ngoài da. Phải tới đó, trên một đất nước xa lạ nhìn thấy nấm mộ đó mới hiểu được tình người trong một nước nó sâu đậm đến đâu, mới hiểu rõ hai chữ “Đồng Bào” cùng một cội nguồn dân tộc với nhau. Mình bỗng chốc thấy thương dân, thương nước mình quá đỗi! Vì đâu, vì ai , vì nghiệp lực nào mà chết thảm, chết khổ, đến thế này! Cá nhân mình có lãnh một phần trách nhiệm nào trong đó không?

Nhang, nến, thắp lên, lời kinh hòa đồng, Phật, Chúa có nhìn xuống chúng sinh không?

Tôi nghĩ tới lời Sư Huyền Việt nói với tôi: Nghiệp lực làm khổ nhau. Cái khổ phải xảy ra một lần trong cuộc đời và cái khổ vẫn tiếp tục xảy ra.

Ngôi mộ thứ hai tại Cherang Ruku, cách nơi này không xa còn to hơn nữa, còn nhiều người hơn nữa, nó cho ta cái cảm tưởng đây là một cái nghĩa trang nhỏ chứ không phải là một nấm mồ. Mộ chôn 123 người, sau nhận thêm 5 người nữa chôn ở nơi khác được đưa về. Tổng cộng là 128 người. Những ngôi mộ tập thể đã được chôn chung như thế nào? Đây là lời kể của bà vợ ông Alcoh Wong Yahao (Sẽ nói đến vị ân nhân này sau)

“Chúng tôi xếp xác từng lớp, không phân biệt nam nữ, tuổi tác. Cứ một lớp xác người xếp lên một lớp khăn liệm, rồi lại tiếp một lớp xác người khác, trên cùng chúng tôi đặt một lớp ván ép, rồi xúc đất đổ lên. Thế là thành một ngôi mộ lớn.

Ngôi mộ thứ hai này và ngôi mộ thứ nhất với 46 người, cộng thêm 5 người mang tới sau, họ cùng đi với nhau trên chiếc tàu khởi hành từ Mỹ Tho, tên tàu là MT- 065, khỏi hành ngày 1 tháng 12, tới gần biển Mã Lai ngày 4 tháng 12 thì bị lật chìm. Tổng số người đi trên thuyền là 300 người.

Mộ Tổng Cộng 128 Người.

Chúng tôi cúi đầu khấn nguyện Chúa, Phật, cầu xin các vong linh về chứng giám cho lòng thành của chúng tôi. Chúng tôi, những phụ nữ dựa vào vai nhau mà đẫm lệ.

Sau đó cha Tâm đề nghị mỗi người cầm nhang đi chung quanh ngôi mộ cắm xuống. Mỗi nén nhang có mang theo những giọt nước mắt.

Hỡi hồn bập bềnh trên biển
Về đây nghe lời kinh an
Trăm ngàn mảnh hồn ướt sũng

Muối nào trong lệ không tan.

Mắt Nào Không Lệ Chảy.

Đừng khóc vội, tôi xin kể một câu chuyện liên quan đến nấm mộ to như một nghĩa trang nhỏ này.
Trong mấy ngày hôm sau khi chúng tôi đi thăm những nghĩa trang có chôn rải rác thuyền nhân, tôi thấy xuất hiện trong đoàn một thanh niên rất trẻ, tôi hỏi chuyện làm quen, khi em giúp nắm tay tôi dắt bước qua những mô đất. Em tên là Alex Trần, 28 tuổi, em đi thăm mộ ông bà ngoại và các chú, bác, của mẹ em. Vì thời khóa biểu không trùng hợp với nhóm nên em đến chậm một đôi ngày, em phải đi thăm ông bà ngoại một mình.
  • Tại sao mẹ không đi với con?
  • Mẹ sợ , mẹ không dám nhìn lại.
Em nói tiếng Việt rất giỏi, rất lễ phép, chứng tỏ em được lớn lên trong một gia đình tốt. Em kể:
Gia đình của mẹ con, tất cả 18 người đi trên chiếc tàu MT-065 này. Lúc đó mẹ con là một cô bé 12 tuổi, dì của con lên 10. Khi tàu lật, họ kẹt trong khoang, dì con 10 tuổi dùng đầu đập vào cửa kính thuyền, hai chị em chui được ra bên ngoài. Cả hai chị em cùng không biết bơi, ngất xỉu. Sóng đánh họ giạt vào bờ, được cứu sống. Cả gia đình chết 13 người, còn lại 5 người trong đó có mẹ con, dì con và ba người họ hàng.

Em thơ dại sao mà em may mắn
Cả một thuyền chết hết chỉ còn em

Sau đó hai chị em được một gia đình Mỹ bảo trợ, nuôi ăn học, cho tới lúc lập gia đình. May mắn gia đình đó ở Orange County, California ngay trung tâm của người Việt nên hai cô bé đó đã vẫn giữ và nói tiếng Việt. (Khi làm mẹ, cô cũng cho con đi học tiếng Việt).

Hai chị em cô bé này quả thật trong bất hạnh có lồng may mắn. Hai cô được cha mẹ Mỹ cho đi học tiếng Việt và lớn lên với cộng đồng Việt.

Nhìn cậu thanh niên khôi ngô, đĩnh ngộ, lớn lên ở Mỹ, nói tiếng Việt rõ ràng, lễ phép trong một gia đình có hoàn cảnh như thế, tôi thấy mình không khóc được nữa. Tôi đứng sững nhìn cậu, nghe cậu kể lại câu chuyện nhiều lần (vì nhiều người hỏi). Tôi hình dung ra mẹ và dì của cậu như những viên ngọc lăn rơi xuống từ những mỏn đá cao và sắc mà không hề xây xát. Không có viên ngọc nào có thể đẹp hơn nữa.

Tôi nghĩ đến đôi ngày vừa qua, khi cậu một mình đứng trước ngôi mộ tập thể, cậu chạm tay mình lên trên tên ông bà ngoại, tôi biết chắc cậu đã khóc bằng đôi mắt của mẹ mình.


Người Chủ của Những Ngôi Mộ Thuyền Nhân

Một khu nghĩa trang của người Hoa cũng ở Terengganu với những ngôi mộ xây theo hình vòng cung như cái bào thai của người mẹ (Người Hoa nói đó là tượng trưng cho ta trở về nơi ta đã từ đó ra đi) Trong nghĩa trang này có 4 khu A, B,C,D. Khu A có hơn 400 thuyền nhân được chôn ở đây. Khu B,C,D có hơn 200. Mộ chôn rải rác, khi thì một người, khi thì ba hay bốn người, tùy theo có bao nhiêu giạt vào bờ lúc đó. Có mộ thấy lên tới bảy người, mười người.

Hỏi anh Lưu Dân, một thuyền nhân ở Úc đã tổ chức tới đây nhiều lần, có gia đình nào về lại Mã Lai cải táng thân nhân đem đi không? Anh nói, có một người đã làm được. Nhưng người Mã ở thành phố này, không muốn cho người Việt đến cải táng mang đi. Họ nêu ra ba lý do:

Thứ nhất, đã chết ở Mã là người Mã.
Thứ hai, mộ ở đây lâu năm đã thành mộ bạn.

Thứ ba, nếu người Việt ai cũng cải táng thì đâu còn ai tới thành phố này (Terengganu là một thành phố cần du khách)

Cha Tâm mặc áo lễ, dâng bánh Thánh ngay trong nghĩa trang này. Tôi và Vũ Thanh Thủy, Ngọc Hân cùng cất tiếng hát: Chúa nhân từ xin lắng nghe linh hồn con tha thiết. Ăn năn kêu van, lạy Chúa xin dủ thương, ban xuống niềm tin ấp ủ cho tâm hồn.


Nắng rát da, trời cao vời vợi, những hạt nước mắt rơi trong tiếng hát, rơi nhòe trên trang giấy hát.
Hòa Thượng Huyền Việt đã rời Thái lan sau khi ở Koh Kra về, nên anh Ngô Đức Hữu từ Úc đại diện Phật Giáo mỗi lần tới các phần mộ, anh phụ trách khấn nguyện. Tiếng Việt miền Nam của anh nhẹ nhàng, ấm áp, bài kinh anh rút ra từ đạo Ông Bà, nghe thật cảm động, xin trích một đoạn:

Cầu Thượng đế từ bi hỉ xả. Cho linh hồn ổn thỏa nghe kinh. Cầu xin giảm bớt tội tình. Cho vong nhàn hạ nhẹ mình thảnh thơi. Cảnh ly biệt hỡi ôi thê thảm. Đức Thần Minh phất phưởng tràng phan. Cho hồn noi đó nhẹ nhàng. Trở về cứu vị an nhàn hưởng vui…..

Sau lễ chúng tôi đi thắp nhang trên các ngôi mộ, không phân biệt Hoa, Việt, người địa phương hay thuyền nhân. Nghi thức hóa vàng mã tiếp theo rất phong phú, các anh chị trong nhóm mua ngay tại địa phương nên mua được rất nhiều ( Theo thống kê năm 2010 Mã Lai có 19.8 % theo đạo Phật).

Chúng tôi hóa vàng xong thì xuất hiện một người đàn bà Hoa, được những người trong nhóm giới thiệu đó là bà Alice Wong, vợ của ông Alcoh Wong một vị ân nhân chôn cất gần như là hầu hết những xác thuyền nhân trôi vào bờ bãi Mã Lai.


Ông chính là người đã chôn cất những ngôi mộ Tập Thể, hơn thế nữa bao giờ có xác táp vào bờ là người ta đi gọi ông. Ông in ra cuốn sách The Vietnamese Boat People (VBP) along The East Coast Of Malaysia Peninsula để hướng dẫn những người đi tìm mộ thân nhân dọc theo bờ biển phía đông vùng biển Mã Lai. Vùng biển phía đông Mã Lai đối diện với mũi Cà Mau là nơi thuyền nhân tới đông nhất và cũng chết đắm nhiều nhất.


Ông để hết thời gian của mình chỉ để lo cho những cái xác của thuyền nhân Việt Nam trôi giạt vào vùng bãi biển Mã Lai, gần nơi ông cư ngụ. Chiếc thuyền đầu tiên của người Việt tỵ nạn ông Wong được nhìn thấy vào ngày 23 tháng 11 năm 1978 đã vào gần tới bãi nhưng chưa được lên bờ. Ông nhìn thấy những khuôn mặt hốc hác, sợ hãi nhưng tràn đầy hy vọng. (Về sau ông được Hội Hồng Nguyệt Red Cresent cho biết, chiếc thuyền đó đã bị lật trong khi được hướng dẫn vào bờ ngay trong cùng ngày. Cả thuyền 137 người bị chết đuối).

Ông và những người bạn của ông ngoài việc chôn cất, còn đi tìm những phần mộ của thuyền nhân rải rác trên đất Mã đem về gần nhau.

Những nấm mộ thuyền nhân tập thể được nhìn như “Mồ vô chủ” thì trên một ý nghĩa nào đó, ông Wong chính là “Chủ” những nấm mồ này.

Cho tới khi ông mất, năm 2006 trước đó một tuần ông vào nghĩa trang thăm mộ thuyền nhân ông đã hát bài “I will follow you forever.”

Nói theo nhà Phật, kiếp trước ông có nợ người Việt Nam hay chính ông là một người Việt Nam trong tiền kiếp?

Tấm lòng của ông Wong đối với thuyền nhân từ năm đầu tiên 1978, khi ông nhìn thấy chiếc thuyền tị nạn 137 người kéo vào vùng vịnh Kuala Terengganu, tới năm ông qua đời 2006 là 28 năm dài.

Đảo Bidong và Những khu mộ

Chúng tôi cũng tới đảo Bidong bằng thuyền. Thuyền này chạy bằng máy cao tốc và từ đất liền ra tới đảo khoảng 20 phút. Đi giữa trưa nắng gắt.

Từ năm 1975- 1991 đã có 250,000 thuyền nhân sống sót tạt thuyền vào sinh sống ở đây. Nhiều người chờ bảo lãnh có thể ở trên đảo từ hai tới bốn năm, nhiều người bị trả lại. Có người bệnh chết, có người tự tử. Họ được mang lên đỉnh đảo chôn cất.

Mộ chia ra từng khu A, B, C… Khu cho trẻ em riêng. Khu F được coi là đông nhất tới hơn 200 ngôi mộ. Chúng tôi kéo nhau lên đó. Bước thấp, bước cao, chống gậy, cầm dao, vừa leo vừa phạt cây rẽ lối. Cuối cùng cũng lên tới tấm bia có ghi 151 người (có bia mộ) Thật ra số mộ ở đây trên con số 200.

Đồi Tôn Giáo nơi trước đây có nhà thờ Công Giáo, Tin Lành, Cao Đài và Chùa thì nay đã vừa bị phá, vừa xụp đổ theo thời gian, trông vô cùng hoang phế. Đau lòng hơn nữa những tượng Phật, tượng Đức Mẹ đều bị chém cụt đầu (vì một số người cuồng tín tin là mất đầu thì không còn linh thiêng nữa) Thánh giá Chúa thì chỉ còn dấu vết trên tường mà thôi.

Tôi và Thái hai chị em đi lang thang chung quanh đồi, Thái lo chụp hình, tôi lo… buồn. Tôi đứng trên cao nhìn mông lung bao quát bãi cát dưới chân đồi.
Nơi đây bao nhiêu người dân Việt của tôi giạt vào, giạt vào bằng thân xác còn thở được, còn hy vọng sẽ được chuyển tới một quốc gia nào đó để gây dựng lại cuộc đời cho con,cháu hay chính bản thân mình? Bao nhiêu người chỉ còn là những cái xác bập bềnh giạt vào bờ? Bao nhiêu cảnh chia ly của những mối tình vừa nhận được sau những đau thương mất mát? Bao cảnh đời uất hận bị gửi trả về nơi mình đã không sống được phải bỏ đi? Bao nhiêu người đã phải ở đây cả ba, bốn năm trong hy vọng, trong tuyệt vọng trước khi được rời nơi này?

Biển dưới kia đang ập vào từng đợc sóng, nước mắt của mấy mươi năm về trước còn giọt nào pha trong muối đại dương?

Biển phải làm gì để giữ mãi được những giọt lệ, những tiếng khóc, tiếng cười, hy vọng và tuyệt vọng của một dân tộc luôn luôn “Đi không yên ổn, ngồi không vững vàng” ngay trên chính đất nước mình.

Chúng tôi xuống đồi để sửa soạn quay về đất liền. Xuống đến chân đồi ngoái đầu nhìn lại, một cánh bướm đen thật lớn từ trên đồi bay xuống lượn vòng ngay sau lưng tôi. Một thoáng rùng mình, một thoáng rưng rưng, tôi dừng lại, nói thầm trong cuống họng mình. “Thôi nhé, tôi về, nhớ mãi hôm nay.” Giơ tay áo lên, quẹt ngang dòng nước mắt. Cánh bướm bay mất hút lên đồi.

Sau một đêm mắc võng, chùm chăn (cho khỏi muỗi) ngủ lăn lóc trên cầu tàu, chúng tôi trở về đất liền, tiếp tục cuộc hành trình tìm mộ thuyền nhân.

Rải Rác Mộ Thuyền Nhân Dọc Đường

Trên đường sang Kuala Lumpur, trong tỉnh Dungun có hai nghĩa trang. Hai nghĩa trang này có biển trước mặt nên khi xác thuyền nhân giạt vào được vớt lên chôn ngay tại đây. Khi họ vớt được 1 xác, khi được 2,3, khi được 5,7. Có khi cả trên 10 xác vào một lúc.

Nghĩa trang thứ nhất lối vào có đền thờ với hàng chữ Tao Yan Dian Temple, có 80 ngôi mộ thuyền nhân, trong đó 38 mộ có tên. Một ngôi mộ tập thể nằm dưới gốc một cây bàng lớn, chôn trên 100 người, được khắc chung một tấm bia. Bia được Văn Khố Thuyền Nhân xây ngày 23 tháng 3 năm 2007.

Những ngôi mộ trong khu thứ hai được đặt trong một nghĩa trang đặc biệt do nhà thờ Công Giáo St.Thomas trông coi. Những thân xác thuyền nhân được bao quanh bởi ba ngôi thánh đường của: Thiên Chúa Giáo, Phật Giáo và Hồi Giáo. Còn được gọi là Migrants Cemetery.

Những linh hồn này thật được chúc phúc an ủi biết bao!

Nhang được thắp lên, lời kinh được cất lên, nước mắt lại chảy xuống, Chúa, Phật trên cao được mời xuống dự tiệc bi ai của nhân loại.

Viết tới đây. Tôi tưởng tượng ra, tôi là người dân Mã Lai sống dọc theo miền đông biển Mã Lai, mỗi sáng trở dậy nghe tiếng gọi nhau ơi ới bên ngoài cánh cửa: Ra vớt xác thuyền nhân Việt đang giạt vào bờ. Không phải một xác, hai xác, mà vô số xác. Rồi cùng nhau tẩm liệm, chôn cất, có khi lập miếu thờ.
Tôi tưởng tượng ra trong những cái xác bất hạnh đó, một cái xác của chính mình.

Những cái xác của đồng bào mình (hay của chính mình) đã được những người không cùng chủng tộc xót thương, được ghi lại in thành sách (như sách của ông Wong) để sau chính những người Việt về tìm lại.

Chôn cất cả trăm, ngàn, nấm mộ không phải là chuyện giản dị. Việc xây cất làm sao chu đáo được. Theo thời gian, mưa nắng những ngôi mộ không tồn tại được.
May mắn thay Văn Khố Thuyền Nhân của người Việt (Do ông Trần Đông, từ Úc-Sáng lập 2004), đã tới Mã Lai, Thái Lan, Nam Dương trùng tu lại hầu hết những nấm mộ này. (Theo VKTN-Trong vùng Đông Nam Á có hơn 2000 nấm mộ vừa tập thể vừa cá nhân).

Tôi Đọc Tên Tôi

Hội Hồng Nguyệt ( Malaysian Red Cresent Societ - Hồng Thập Tự Mã Lai) đã lưu trữ hai trăm ngàn (200,000) hồ sơ của những người sống sót. Để hôm nay những thuyền nhân trong nhóm chúng tôi đến tìm lại. Mỗi khi tìm được tên của mình hay thân nhân mình, họ òa vỡ ra cùng một lúc tiếng cười và giọt lệ:

Tôi vừa đọc tên tôi trên tấm thẻ
Có phải tôi không trên lý lịch này
Ngày tháng đó tưởng vùi chôn đáy biển
Bỗng sóng đánh vào bờ sáng hôm nay

Khi chúng tôi tới viếng Hội, câu chào hỏi đầu tiên của ông Dato’ Sayed A. Rahman,Tổng Thư Ký hội Hồng Nguyệt là: “Chúng tôi không cần biết anh là người nước nào, chúng tôi chỉ biết giúp đỡ một con người.” Nghe mà ứa nước mắt.

Ông Misnan, nhân viên điều hành của Hội, nói được vài câu bằng tiếng Việt rất thân tình. Đặc biệt là ông hát cho chúng tôi nghe bằng tiếng Việt, bài hát “Bài Tình Ca Cho Em” của Vũ Thành An thật hay. Hay một cách bất ngờ!

Thế gian đầy quỷ dữ, nhưng Trời cũng ban phát xuống những thiên thần cứu trợ.

Sau 42 năm nhìn lại, chúng ta có rất nhiều những trang Sử mới. Trên hết, mỗi một cái chết của thuyền nhân, của tù cải tạo, của người Quốc Gia chết cho Tự Do là một trang Sử mới được cộng vào.

Tất cả con dân Việt đều phải học Sử Việt.

Ngày 20 tháng 4 năm 2017

Viết trong cuộc hành trình về Trại Tỵ Nạn Songkhla, đảo Koh Kra và Trại Tỵ Nạn Bidong từ 30 tháng 3 tới 16 tháng 4-2017

Bài: Trần Mộng Tú
Hình: Trùng Dương
Bạn đọc làm báo

(*) Những câu Thơ trong bài của tác giả Trần Mộng Tú
 
website statistics
Top ↑ Copyright © 2011. Người Đưa Tin - All Rights Reserved
Back To Top ↑