Người Đưa Tin
Tin Tức Cập Nhật 24/7

Điều 62 Luật đất đai, Tập đoàn FLC và nguy cơ mất nước!


Ông Trịnh Văn Quyết, Chủ tịch Tập đoàn FLC. Ảnh: internet

Quốc Hội Mỹ đã từng chặn một thương vụ Trung Quốc thâu tóm một cảng biển của Mỹ. Trong hồi ký của mình, cựu Chủ tịch FED Greenspan không tán thành việc ngăn cản trên, ông cho rằng làm như vậy là không cần thiết và có thể hạn chế tự do thương mại. Giữa Trung Quốc với Mỹ không có tranh chấp lãnh thổ, dù cho điều gì xảy ra thì Trung Quốc cũng không thể sử dụng phương tiện của họ trên đất Mỹ để gây hại cho an ninh quốc gia của Mỹ, nên có lẽ các chính trị gia Mỹ đã lo quá xa. Nhưng sự lo xa của họ không phải là không có lý do khi nhìn thấy Trung Quốc thâu tóm đất đai khắp nơi trên thế giới.

Nước Mỹ còn lo xa như thế, còn nước ta thì sao? Việt Nam và Trung Quốc đang tranh chấp lãnh thổ, nói trắng ra là Trung Quốc đang chiếm Hoàng Sa, một phần Trường Sa của Việt Nam và đang tiếp tục đe dọa chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông. Vì vậy, nước ta không những phải lo xa mà còn lo gần, vì nguy cơ mất đất mất biển đang hiện hữu.

Nỗi lo đó không phải thể hiện ở việc “vô cùng quan ngại” hay “cực lực lên án”, mà ở chiến lược phòng thủ và khả năng sẵn sàng chiến đấu. Đa phương hóa vấn đề Biển Đông, tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế để kiềm chế tham vọng của Trung Quốc là một chuyện, nhưng chuyện quan trọng nhất là khả năng tự vệ, không những đối với thế hệ này mà phải bảo đảm khả năng tự vệ dài lâu cho con cháu, đến khi nào thế giới đại đồng thành một ngôi nhà hòa bình mới không còn nỗi lo đó nữa, nhưng chẳng bao giờ có một thế giới như vậy đâu.

Tôi không biết các nhà lãnh đạo đất nước và các nhà lãnh đạo quân sự chiến lược nước ta nghĩ gì khi nhìn thấy đất đai khu vực dọc bờ biển từ Bắc Trung bộ đến Nam Trung bộ, cả những vị trí phòng thủ chiến lược trọng yếu, đã và đang đẩy dân đi để giao cho doanh nghiệp làm dự án kinh tế mà không hề có một động thái gì cho thấy việc triển khai các dự án kia nằm ngoài vành đai phòng thủ chiến lược bờ biển quốc gia. Những địa điểm phòng thủ quan trọng nhất trên bờ biển Đà Nẵng thực sự đã bị các doanh nghiệp Trung Quốc chiếm giữ. Còn các nơi khác thì như thế nào ?

Xin dẫn trường hợp của FLC. Người ta không thể nào hình dung nổi tập đoàn bất động sản mới nổi này lấy tiền đâu mà chỉ trong một thời gian cực ngắn đã thâu tóm một diện tích đất đai khổng lồ dọc bờ biển từ Bắc Trung bộ đến Nam Trung bộ (chưa kể đất đai ở Quảng Ninh, Hải Phòng và các tỉnh khác). Thâu tóm thần tốc, thi công thần tốc, đó là những gì người ta nhìn thấy, kéo theo đó là những “công văn hỏa tốc” của chính quyền địa phương (như trường hợp của Quảng Ngãi) phục vụ cho sự “thần tốc” này. Tôi chưa nói đến những vi phạm pháp luật, chưa nói đến tình trạng dân oan ca thán khắp nơi xung quanh việc thu hồi đất, bài này chỉ giả định mọi thứ họ làm là hợp pháp.

Bạn hãy hình dung: FLC là một công ty đại chúng niêm yết trên thị trường chứng khoán. Dù công ty này chưa nằm trong số các công ty được mở room 100% cho nhà đầu tư nước ngoài, nhưng tại một cuộc hội thảo diễn ra ở Nhật vào năm ngoái, Chủ tịch FLC Trịnh Văn Quyết tuyên bố, ngoài việc bán cổ phần, “FLC có thể chuyển nhượng cả dự án cho nhà đầu tư nước ngoài” (tinnhanhchungkhoan.vn, 7-9-2017). Nếu như các dự án của FLC được chuyển nhượng cho các nhà đầu tư Trung Quốc thì điều gì sẽ xảy ra? Trung Quốc, thông qua các doanh nghiệp của họ, sẽ khống chế toàn bộ bờ biển Việt Nam. Họ có thể ém quân, đưa vũ khí khí tài, tổ chức các hoạt động thu thập thông tin tình báo và bí mật huấn luyện quân sự tại những cơ sở của họ dọc theo bờ biển của ta, nếu như họ có ý đồ. Và nếu như Trung Quốc ngang nhiên sử dụng vũ lực để uy hiếp chủ quyền của ta trên Biển Đông, đương nhiên chúng ta phải dùng vũ lực để đáp trả nhằm bảo vệ chủ quyền, khi ấy chiến tranh có thể lan rộng, Trung Quốc có thể đem hải quân tấn công vào bờ biển của ta với sự tiếp ứng của lực lượng tại chỗ trên bờ biển của ta mà họ chuẩn bị sẵn. Chúng ta sẽ dựa vào đâu để phòng thủ?

Khi ấy, nước sẽ mất. Chúng ta sẽ rút lên rừng, mà rừng thì nhiều nơi Trung Quốc cũng chiếm giữ theo một cách tương tự. Chúng ta sẽ sống trong nô lệ và sẽ âm thầm truy ra nguyên nhân sâu xa của tình trạng mất nước chính là Điều 62 của Luật Đất đai cho phép chính quyền địa phương thu hồi đất của dân giao cho doanh nghiệp để doanh nghiệp giao lại cho doanh nghiệp Trung Quốc khi ấy đã thành giặc. Và khi ấy, những người xây dựng và duy trì điều luật này, có thể sẽ tiếp tục làm quan cho Trung Quốc hoặc đã đủ tiền để chạy ra nước ngoài.

Kịch bản trên có thể xảy ra không? Không gì là không thể.

Cách đây mấy ngày, cả Ban Thường vụ Tỉnh ủy và Thường trực UBND tỉnh Quảng Trị cùng ông Trịnh Văn Quyết đi khảo sát để chuẩn bị giao cho FLC 1000 ha khu vực bãi biển Cửa Việt của tỉnh này. Đây là thông tin mới nhất của quá trình thâu tóm thần tốc. Tại đây FLC dự kiến ngoài khu resort, sân golf, còn xây dựng một sân bay. Có khả năng Tập đoàn này sẽ lấp kín các bờ biển mà doanh nghiệp khác chưa chiếm cứ.

Điều 62 Luật Đất đai với quy định cho phép chính quyền địa phương lấy đất của dân giao cho các doanh nghiệp làm dự án, ngoài những tác hại như tôi đã nói ở các bài trước, còn có thể dẫn đến nguy cơ mất nước. Trước mắt, điều khoản này đang biến một số chính quyền địa phương cấp tỉnh và cấp huyện từ công cụ phục vụ lợi ích của nhân dân thành công cụ của doanh nghiệp. Và không chỉ có mỗi một FLC.

Điều nguy hiểm là, đã là luật rồi thì chính quyền địa phương cứ thế thi hành, không ai cản được. Cho dù Tổng Bí thư hay Thủ tướng có nhìn thấy nguy cơ cũng bó tay, nếu điều luật này không được sửa.


© Hoàng Hải Vân
FB Hoàng Hải Vân

Quốc khố giàu mạnh: Không từ người bán trà đá!


Người bán trà đá tại Việt Nam là có tỉ suất lợi nhuận cao nhất trên thế giới' - Đại biểu Quốc hội Nguyễn Mạnh Tiến


Nhấp vào nút play (►) dưới đây để nghe
Tại buổi thảo luận tổ về tình hình phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khoá XIV, sáng 22/5, đại biểu Nguyễn Mạnh Tiến (Tây Ninh), Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Đối ngoại đề cập đến những nguyên nhân làm cho nhà nước không thu được thuế, gây nên hụt thu cho quốc khố.

Một ví dụ được vị đại biểu này nêu ra là “dù siêu lợi nhuận nhưng người bán trà đá tại Việt Nam lại không đóng đồng nào cho ngân sách.”

Câu chuyện thu thuế và cách thức thu thuế của Việt Nam hiện đang có "vấn đề" hay chính người buôn bán nhỏ ở Việt Nam đang gây khó khăn cho quốc khố?


Người bán trà đá: Họ là ai?

Báo Lao Động trong nước trích dẫn nguyên văn phát biểu tại nghị trường của Đại biểu Nguyễn Mạnh Tiến khi đề cập vấn đề ngân sách sách nhà nước và cách thức thu thuế:

“Người bán trà đá tại Việt Nam là có tỉ suất lợi nhuận cao nhất trên thế giới, 5.000-7.000% nhưng lại không đóng đồng nào cho ngân sách, họ chỉ đóng tiền tượng trưng nào đó cho địa phương, thậm chí chỉ là vài người kiểu quản lý thị trường gì đó thôi. Trong khi đó trên thế giới, tất cả những người phát sinh thu nhập đều đóng thuế cho nhà nước trực tiếp luôn.”

Rất rõ ràng, nếu dựa theo Luật thuế thu nhập cá nhân do Quốc hội ban hành Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi và hiện đang có hiệu lực, thì phát biểu của Đại biểu Quốc hội Nguyễn Mạnh Tiến không sai với nội dung luật định. Không những đúng với Hiến pháp Việt Nam mà còn đối với tất cả quốc gia khác trên thế giới.

Chủ thể mà ông Tiến nhắc đến trong phát biểu trên nằm trong Điều 2 và Điều 3 của Chương 1 Luật thuế thu nhập cá nhân. Theo đó, người bán trà đá là đối tượng nộp thuế và có thu nhập chịu thuế từ hoạt động kinh doanh, sản xuất, dịch vụ.

Trong ngữ cảnh này, ngành nghề họ đang làm là kinh doanh và hàng hoá chính là trà đá, một mặt hàng rất phổ biến và rất bình dân ở Việt Nam. Hoạt động kinh doanh này có đặc điểm là không có chứng từ, hoá đơn mua bán. Sự trao đổi diễn ra đơn giản giữa những tờ bạc có mệnh giá không cao mà người lao động hay gọi là “tiền lẻ” và những ly nước gồm trà, đá và nước lạnh.

Tôi thấy việc đưa ra thuế thu nhập và giá trị gia tăng không phù hợp với sức đóng góp của người dân cũng như những người sản xuất ra của cải vật chất trong nước. Không hợp lắm với sức đóng góp của người dân

- Nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại Lê Văn Triết
Đây cũng chính là cơ sở để ông Lê Văn Triết, Nguyên UV Trung ương (TW) Đảng - Nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại, người xây dựng nền tảng đầu tiên cho chiến lược đàm phán Việt Nam gia nhập WTO, đưa ra bình luận về việc đánh thuế thu nhập và giá trị gia tăng vào thu nhập của đối tượng này:

“Tôi thấy việc đưa ra thuế thu nhập và giá trị gia tăng không phù hợp với sức đóng góp của người dân cũng như những người sản xuất ra của cải vật chất trong nước. Không hợp lắm với sức đóng góp của người dân.

Vì năng xuất lao động cũng như thu nhập của người dân, trừ trường hợp buôn bán đất đai không nói, nếu là những người dân làm ăn bình thường thì thu nhập khiêm tốn lắm. Cho nên nếu tăng thì theo tôi nó không phù hợp với thực tế của tình hình, mà nó cũng không phù hợp với túi của người dân có thể đóng góp vào xã hội, đất nước.”


Thu nhập của họ như thế nào? Có thật sự một vốn 7 lời như Đại biểu Nguyễn Mạnh Tiến đề cập hay không?

Một phụ nữ bán nước ven đường ở ngoại thành Sài Gòn cho chúng tôi biết sự thật về lợi nhuận của việc bán một ly trà đá.

“Mấy ổng nói thu thuế đúng rồi vì mấy ổng thấy bán được. Một bịch bự nước đá bi 2,000 đồng, bán gần 10 ly. Một ly nước đá bỏ miếng đá, miếng trà vô bán 2,000 đồng. ”

Mấy ổng nói thu thuế đúng rồi vì mấy ổng thấy bán được. Một bịch bự nước đá bi 2,000 đồng, bán gần 10 ly. Một ly nước đá bỏ miếng đá, miếng trà vô bán 2,000 đồng.

- Người bán hàng
Người đàn ông đẩy xe bán hàng rong trên đường phố Sài Gòn cho biết ông từ Hà Nội vào lập nghiệp. Những món ăn đường phố bình dân ông đang bán cũng đã phải chịu thuế.

“Bán trà đá thì lời vì chỉ có nước không, chè (trà), với đá. Bán 3 ngàn, có khi 5 ngàn cũng có.”

Hạn chế quản lý gây thất thu thuế

Về đối tượng đóng thuế mà Đại biểu Nguyễn Mạnh Tiến lấy làm dẫn chứng, Tiến sĩ kinh tế Lê Đăng Doanh cho rằng đó là dạng chủ thể chịu trách nhiệm về thuế khoán.

“Các hộ gia đình của Việt Nam như bán trà đá, bán cháo thì phải nộp thuế trên cơ sở là thuế khoán. Nghĩa là có một cán bộ thuế đến xem xét, tính toán số doanh thu của người đó rồi thương lượng, khoán một khoản thuế. Các khoản thuế đó thường là thấp hơn nếu anh có một cửa hàng đăng ký theo Luật Doanh nghiệp.”

Theo những gì Tiến sĩ Lê Đăng Doanh được biết, chính những cá nhân hoặc hộ gia đình này phản ảnh rằng họ phải nộp những khoản thu ngoài pháp luật cho ông A, bà B ở phường, quận. Những khoản đó không phải là nhỏ. Và đương nhiên, theo pháp luật, đó không thể gọi là thuế.

Điều đáng quan tâm ở đây, cũng theo Tiến sĩ Doanh, đó là đã có một thoả thuận giữa những hộ/cá nhân này với cán bộ thu thuế.

“Lỗi đó không phải của họ mà của cán bộ thu thuế. Người ta nói là họ đã có 1 khoản chi để các cán bộ thu thuế hài lòng và chỉ thu 1 khoản thu khoán thấp ở mức độ nào đó thôi.”

Đây cũng chính là chi tiết Đại biểu Nguyễn Mạnh Tiến nhắc đến tại nghị trường, đó là trong thời gian qua, việc đưa cán bộ đi thu thuế của người nộp thuế nên dễ xảy ra sự “thoả hiệp đôi bên cùng có lợi”.

Lỗi đó không phải của họ mà của cán bộ thu thuế. Người ta nói là họ đã có 1 khoản chi để các cán bộ thu thuế hài lòng và chỉ thu 1 khoản thu khoán thấp ở mức độ nào đó thôi.

- TS Lê Đăng Doanh
Đừng ‘ngắt ngọn ăn ngay’

Hình thức thuế khoán, hay như vấn đề Đại biểu Nguyễn Mạnh Tiến đặt ra về thu nhập siêu lợi nhuận của người bán trà đá mà không đóng đồng nào cho ngân sách, có phải là vấn đề làm cho ngân sách nhà nước hụt thu hay không?

Câu trả lời của Nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại, ông Lê Văn Triết đó là không phải chúng ta tìm cách truy cứu trách nhiệm đóng thuế của người bán trà đá mà là chính sách thuế như thế nào để tạo điều kiện và thu hút người dân làm kinh tế.

“Cái thu nhập của nhà nước, của quốc khố yếu, không bù đủ chi thì người ta có những cách giải quyết khác căn cơ hơn. Đó là làm thế nào để tạo cho người dân hay người sản xuất có lợi nhuận cao hơn, thu nhập cao hơn, để trên cơ sở đó nhà nước có thu thuế, như thế nó phù hợp với quy luật phát triển của sự vật.”

Ông nhấn mạnh, đây mới chính là con đường đi của vấn đề làm cho thu nhập của nhà nước tăng trưởng lên, mở rộng ra lợi nhuận. Và quan trọng là trên cơ sở đó, người dân sẽ tự nguyện đóng thuế cho nhà nước.

“Họ không đóng thuế nhập khẩu nguyên nhiên vật liệu, tức những loại nhập khẩu về để làm ra sản phẩm để nuôi sống doanh nghiệp, phát triển sản xuất. Họ giảm thu thuế đó để họ nuôi dưỡng sức sản xuất của người dân. Khi nền sản xuất phát triển ra, khi cái bánh nở thì người ta mới bắt đầu thu thuế. Như thế cái thu nó hiệu quả hơn, đỡ khó khăn cho dân hơn, cho doanh nghiệp và đỡ khó khăn cho sản xuất hơn.

Chính nhờ đó mới có thu nhập và bền vững được.”


Thái Lan, quốc gia láng giềng với Việt Nam trong vùng Đông Nam Á được ông Lê Văn Triết cho rằng là quốc gia đã và đang thực hiện con đường đi như thế.

“Thuế nhập khẩu đánh vào các mặt hàng phục vụ cho sản xuất các ngành tiểu thủ công nghiệp và công nghiệp ở Thái Lan đánh thuế rất thấp. Chính nhờ đó sản xuất trong nước phát triển được. Và chính vì phát triển được mà họ nộp thuế tốt hơn. Từ thời ông Shirawatra làm chuyện đó rất mạnh tay và ổng nói nếu nhà nhập khẩu nào hay cơ quan nhà nước nào phạm đến chuyện đó thì họ sẽ có biện pháp.”

Theo lời chia sẻ của vị Nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại, con đường này lẽ nên được suy nghĩ, nghiên cứu thực hiện từ rất lâu, đừng nên “ngắt ngọn ăn ngay” ở khâu nhập khẩu vật tư hàng hoá. Hãy tạo điều kiện “2 bên cùng có lợi” ở mặt vĩ mô, vừa có lợi nhuận cho người dân, vừa tăng ngân sách cho nhà nước. Đây mới chính là giải pháp giàu mạnh cho quốc khố, chứ không phải truy thu thuế từ một ly trà đá.


Cát Linh
RFA

Từ 'thu phí' thành 'thu giá': Chuyện khôi hài


Một trạm thu phí trả tiền tự động ở Pháp. Ảnh minh họa. 


Nhấp vào nút play (►) dưới đây để nghe
Bên hành lang Quốc hội chiều 22/5, Bộ trưởng Giao thông Vận tải (GTVT) Nguyễn Văn Thể nói với báo chí xung quanh việc các trạm thu phí BOT được đổi tên thành "trạm thu giá" trong thời gian qua.

Nguyên văn lời ông Thể như sau “Việc chuyển đổi này dựa trên quy định của Chính phủ. BOT là một sản phẩm của doanh nghiệp nên họ tự định giá; còn phí thì mang tính chất Nhà nước”.

Ngay lập tức, người dân và các chuyên gia trong nhiều lĩnh vực lên tiếng phản đối.

Chuyên viên pháp lý Lê Thị Hòa khẳng định với báo chí trong nước là không thể tùy tiện thay đổi và sử dụng tên gọi khác dẫn đến hiểu nhầm, hiểu sai bản chất của thuật ngữ pháp lý. Còn với GS Nguyễn Đức Dân, nguyên Phó chủ tịch Hội Ngôn ngữ học Việt Nam thì "Từ này là do cán bộ quản lý nghĩ ra chứ từ trước đến nay không ai dùng như vậy cả".

Ông Hoàng Ngọc Diêu, một chuyên gia công nghệ thông tin sống tại Úc, hiện là một facebooker có nhiều bài viết cũng như clips về hiện tình đất nước mở đầu phần trao đổi với RFA rằng ông thấy chuyện này khôi hài:

Mấy ông loay hoay tìm một lý do thỏa đáng để cho người dân không phản đối nhưng hóa ra nó rất khôi hài bởi không có xứ nào trên thế giới này có thứ lệ phí đường mà biến thành “giá” hết. Đó là cái kỳ quặc.

Ông nói thêm rằng đường xá, cơ sở hạ tầng của một đất nước là tài sản của quốc gia cho nên dù có đấu thầu, đầu tư gì đi chăng nữa thì nó cũng là tài sản quốc gia, tại sao lại biến thành của doanh nghiệp rồi biến từ phí thành giá rồi lên giá tùy thích để lấy lại vốn đầu tư. Hơn nữa đất nước Việt Nam bây giờ dưới thể chế được gọi là “dân chủ tập trung”, tất cả mọi thứ là dưới sự lãnh đạo của đảng thì làm gì có chuyện đường xá, cơ sở hạ tầng biến thành tài sản của doanh nghiệp để doanh nghiệp đưa ra giá. Ông kết luận:

Thực ra bây giờ có là phí hay giá thì người dân cũng không có khả năng kiểm soát hay đòi hỏi gì hết. Bây giờ dân nói tôi không muốn trả “giá” hay không muốn trả “phí” thì cũng vậy thôi. Họ cũng phải đóng chừng đó tiền hoặc nhiều hơn mà thôi.

Dân lãnh đủ

Theo quy định của luật pháp thì thuế, phí và lệ phí có các luật và văn bản hướng dẫn thi hành để điều chỉnh. Còn “giá” cho các trạm BOT hiện nay là do Bộ GTVT có quyền thao túng, không có luật hay văn bản nào cả. Ông Nguyễn Văn Thể nói với báo chí trong nước là “Việc đổi tên này không có gì khác mà chỉ là linh động hơn”. Vậy linh động ra sao và người dân được hưởng lợi gì từ sự linh động ấy mà phải đổi cách gọi tên, ông Nguyễn Lân Thắng, một nhà hoạt động trong nước bày tỏ:

Cách gọi tên có như thế nào thì người dân vẫn đang phải chịu một khoản thu rất là vô lý. Có những nơi qua trạm BOT làm rất cẩu thả, chất lượng đường rất là kém nhưng thu rất cao. Đặc biệt với những xe vận tải hạng nặng đi qua đường quốc lộ là từ ngân sách nhà nước nhưng các đơn vị tư nhân nâng cấp sửa chữa qua loa rồi sau đó thu phí cao.

Tôi cho là trong thời gian vừa qua với sức ép của dư luận, đặc biệt là Nhóm Bạn hữu đường xa cũng như đông đảo anh em tài xế khắp mọi nơi thì Bộ GTVT đang phải có những cách chống chế những việc làm sai hiện nay.

Trao đổi với báo chí bên lề kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa 14 vào ngày 24/5, Trưởng ban Dân nguyện Quốc hội, bà Nguyễn Thanh Hải, cho rằng bản chất tên gọi “trạm thu phí” hay “trạm thu giá” không khác nhau. Nhưng với ông Hoàng Ngọc Diêu thì nó khác nhau hoàn toàn. Ông phân tích:

Phí là một loại fee đã được quy định dựa trên những tiêu chuẩn nào đó nhất định và có một thời hạn nhất định. Ví dụ ở nước ngoài nó có những cái tollgate, nó có thời hạn và lý do vì sao có mức fee như vậy, tương đương ở Việt Nam là phí. Còn cái “giá” thì không dựa trên một cái gì hết thì dân biết kêu ai vì đâu có ban ngành gì để kiểm soát giá đâu?

Bộ trưởng GTVT thì nói rằng hệ thống BOT không thuộc nhà nước nữa mà thuộc về doanh nghiệp cho nên nó không thể là “phí” mà phải là “giá”. Đó là cách giải thích lòng vòng và phi lý.

Ông nói thêm rằng “giá” là số tiền để trả cho một phẩm vật nào đó mình có trong tay. Đằng này con đường là phương tiện nên không thể gọi là “thu giá”. Nếu họ nói “giá” thì mình có quyền trả giá vì khi nói đến “giá” thì nó có sự biến thiên. Nhà nước có để cho dân mặc cả không?

Liệu có đổi tên?

Trên mạng xã hội cũng như báo chí chính thống đều có những bài viết, những ý kiến phản bác chuyện đổi từ “thu phí” thành “thu giá” vì nó quá khôi hài và vô lý cả về mặt ngôn ngữ lẫn ý nghĩa. Ngay cả đơn vị xây dựng trạm thu giá BOT Đức Hòa ở Long An muốn đổi tên trạm thu giá trở về trạm thu phí, thế nhưng chuyện đổi lại thì không đơn giản chút nào.

Ông Nguyễn Lân Thắng cho rằng cái tên chỉ là một phần của câu chuyện BOT, và muốn thay đổi thì phải có lộ trình:

Với cuộc sống cơm áo gạo tiền của người dân nghĩ đến một cái lợi ích chung để đấu tranh cho lợi ích xã hội thì cũng rất là khó. Tuy nhiên các kênh truyền thông, mạng xã hội và các cơ quan truyền thông tiếng Việt ở nước ngoài bây giờ có một ảnh hưởng to lớn đến tinh thần đấu tranh của người dân phản kháng trước những vấn đề của xã hội.

Tôi vẫn tin rằng sự phản ứng ngày càng gay gắt chứ sẽ không chìm đi. Và dù là cái tên thì nó vẫn là một câu chuyện trong cả câu chuyện trạm thu phí BOT.

Việc đấu tranh này cũng cần phải có lộ trình, tức là phải thu hút được đám đông, thu hút được sự quan tâm cảu dư luận. Bằng cách này hay cách khác thì nó vẫn tiếp tục gây sức ép lên Bộ Giao thông vận tải cũng như các cơ quan công quyền trong vấn đề xử lý các trạm BOT này.

Việc nâng cấp cơ sở hạ tầng để phục vụ người dân là vấn đề lãnh đạo quốc gia nào cũng phải tính tới. Ngân sách chủ yếu là từ tiền thuế do dân đóng góp hoặc đi vay nước ngoài để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng. Nhà nước cần phải tính toán mức phí thu như thế nào và trong bao lâu để hoàn vốn chứ đây không phải là sản phẩm kinh doanh. Cơ sở hạ tầng của một quốc gia là để phục vụ người dân chứ không phải là một phương tiện để kinh doanh.


Diễm Thi
RFA

Nhân quyền từ đáy lòng hay món hàng trao đổi?


Phiên tòa xử Blogger Mẹ Nấm.

Thế giới dân chủ đang rất quan tâm và quan ngại về tình hình đàn áp những người bất đồng chính kiến, những chiến sĩ dấn thân đòi dân chủ và nhân quyền ở Việt Nam. Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc, chuyên viên về Nhân quyền của chính quyền Hoa Kỳ, CHLB Đức, Anh, Hà Lan, Thụy Điển, Na Uy… đều lên tiếng phàn nàn về sự sa sút tệ hại trong tôn trọng nhân quyền và tự do tôn giáo ở Việt Nam, khi đang có chừng 150 tù nhân chính trị đang bị giam cầm tù đày vì đòi tư do chính trị và tôn giáo.

Mấy năm nay nhân Tết dương lịch và Tết Nguyên Đán, Nhà nước chỉ giảm án, ân xá cho một số tù kinh tế, hình sự, một số đảng viên tham ô, cố tình bỏ quên các chiến sĩ dân chủ, những con người có nhân cách cao quý, dũng cảm, yêu nước thương dân, kiên cường chống bành trướng, lại bị chính quyền « hèn với giặc ác với dân » đàn áp rất nặng nề.

Chính quyền cố làm như ta đây cũng tôn trọng nhân quyền, cũng cử ra phái đòan tham gia Hội đồng Nhân quyền LHQ, còn ứng cử vào Ban thường trực, đọc báo cáo chuyên đề, tham gia các cuộc Kiểm tra định kỳ phổ quát – Universal Periodic Review (kỳ sắp đến sẽ khởi đầu từ tháng 7/2018), ghi nhận các nhận xét phê bình kiến nghị của các nước, nhưng có ai tin rằng họ làm một cách trung thực, tự đáy lòng, coi tôn trọng dân chủ, dân quyền, nhân quyền là những giá trị cơ bản nhất của thời đại? Họ giả dối, đóng kịch lừa thiên hạ.

Tệ hơn nữa, họ coi các tù nhân chính trị, những người con quý hiếm nhất của đất nước như là món hàng để trao đổi, mua bán, mặc cả với thế giới, một kiểu bắt cóc hàng loạt để làm con tin tàn ác vô nhân đạo.

Và nay nguy cơ đang đến, đó là, yêu cầu đưa Việt Nam vào danh sách CPC - Country of Particular Concern - Nước cần Quan tâm Đặc biệt – với nhiều trừng phạt nặng nề để cảnh báo, thúc ép đi vào con đường quang minh chính trực.

Việt Nam đã bị một lần trừng phạt như thế cách đây hơn 10 năm, khốn khổ khốn nạn buộc phải nhượng bộ, nới tay để thoát nạn. Nay các quan tham đã vơ vét của dân không chừa một cái gì, nên nước đến chân vẫn ù lỳ, trơ tráo. Họ bỏ mặc ông Trần Huỳnh Duy Thức ốm đau với bản án 15 năm, bỏ mặc cô Nguyễn Ngọc Như Quỳnh 10 năm tù khi mẹ già ốm, 2 con dại, ông Trần Anh Kim cựu đảng viên cao cấp đang thập tử nhất sinh, và bao nhiêu trường hợp đày ải khác.

Tình hình khẩn cấp chí nguy, chí nguy lắm rồi! Nhân dân không thể nghiến răng chịu mọi thiệt thòi do lầm lỗi dai dẳng của đảng cầm quyền?

Bộ Chính trị và Quốc hội đang họp cần bàn kỹ và ra quyết định chuyên đề về tôn trọng Nhân quyền, thả tất cả các tù nhân chính trị và tôn giáo, một việc làm cấp bách theo đúng lòng dân, hợp với đòi hỏi quốc tế, từ đó học tập sống hòa nhập thật sự lương thiện không lươn lẹo với thế giói hiện đại, thoát khỏi sự chê trách, sự chỉ trích mạnh mẽ nghiêm khắc của thế giới văn minh.


Bùi Tín
Blog VOA

Tiếng Việt càng ngày càng… khó!


Từ nay, người dân qua trạm không phải trả phí, chỉ trả giá? Hình: Người dân và tài xế phản đối Trạm thu phí BOT Biên Cương, Cẩm Phả, Quảng Ninh, ngày 22/2/2018 (TTXVN)

Có lẽ tất cả người Việt, từ già đến trẻ, cả nam lẫn nữ, bất kể học vấn, nghề nghiệp, nên cùng nhau… sám hối vì học chưa tới nơi, hiểu chưa tới chốn những nguyên lý có tính thời thế đang chi phối tiếng mẹ đẻ!

Tiếng Việt – ngôn ngữ mà họ nghe “từ lúc nằm nôi”, đã, đang cũng như sẽ dùng cho tới hết phần đời còn lại của mình, giờ rõ ràng là rất khó và rõ ràng số người… chuyên tâm học – hành Việt ngữ quá… ít!

***

Đầu tuần này, khi các trạm thu phí cho những công trình giao thông được đầu tư theo hình thức BOT đồng loạt thay bảng, đổi tên thành trạm thu… giá, dư luận rồi công luận ở Việt Nam sôi sùng sục.

Không chỉ những người bình dân hoang mang về ngữ nghĩa, giới được xem là có học, là tinh hoa của xã hội Việt Nam, đọc nhiều – hiểu rộng cũng công khai thừa nhận họ không đủ khả năng lĩnh hội, lý giải rạch ròi về “thu giá”.

Bối rối vì sự ra đời và đột nhiên trở thành phổ dụng của “thu giá”, nhiều triệu người xúm vào chỉ trích, trong số này có facebooker Trần Đăng Tuấn. Ông Tuấn nhận định, việc đổi “thu phí” thành “thu giá” là “sự ngu độn của ngôn ngữ”, đồng thời nhấn mạnh, đó không phải là ngu độn tự nhiên mà là loại ngu độn thoát thai từ “trí trá”, một “ý đồ xảo quyệt” nhằm lách qua các qui định hiện hành về phí để hợp pháp hóa chuyện bắt chẹt dân chúng. Chuyển từ “thu phí” qua “thu giá” là nhằm tước vũ khí pháp lý trong tay dân chúng khi họ muốn sử dụng vũ khí pháp lý ấy để chống lại sự phi lý, áp đặt. Ông Tuấn lên án sự chuyển đổi “thu phí” thành “thu giá” thể hiện thái độ lì lợm một cách trắng trợn

Tính đến cuối tuần này, có ít nhất 15.000 người sử dụng mạng xã hội Việt ngữ bày tỏ sự đồng tình với ông Tuấn, chưa kể phân tích – nhận định của ông Tuấn đã được khoảng 5.000 người chia sẻ.
Chẳng riêng mạng xã hội, dẫu được đặt dưới sự lãnh đạo toàn diện, sáng suốt của Đảng, làm gì cũng phải nhìn trước, ngó sau xem có khác với chủ trương, có ngược hướng với đường lối hay không nhưng báo giới cũng nhập cuộc. VOV – Đài Phát thanh Quốc gia của Việt Nam phỏng vấn nhiều người từ thường dân tới các chuyên gia là tuyệt chiêu mà Bộ Giao thông – Vân tải tạo ra để bảo vệ tận thu. Theo đường hướng đó, Thanh Niên giới thiệu phân tích, cảnh báo của một số chuyên gia khác rằng, “thu giá” chính là mở đường để giao công sản cho các doanh nghiệp đầu tư vào hạ tầng giao thông theo hình thức BOT khai thác sai nguyên tắc. Người Lao Động thu thập ý kiến hàng loạt độc giả, bày tỏ sự bất bình vì “thu giá” che đậy, hợp thức hóa tham vọng “thu phí bằng mọi giá”. Một số cơ quan truyền thông khác như VnExpress, VietNamNet, Tuổi Trẻ… tìm tới các chuyên gia về Việt ngữ, những nguyên lý cơ bản của Việt ngữ để chứng minh “thu giá” là quái thai ngôn ngữ, một biểu hiện quái gở, nguy hiểm trong tư duy…

***

Đứng trước sự cuồng nộ của dư luận và công luận, thậm chí bị không ít người gán cho, gọi bằng biệt danh “Thả cá trê” – một lối miệt thị ông Thể, ví ông như… cá tra, ông Nguyễn Văn Thể có thêm dịp để chứng tỏ bản lĩnh của một thành viên chính phủ đang đảm nhiệm vai trò Bộ trưởng Giao thông – Vận tải.

Ở hành lanh trụ sở Quốc hội, thông qua báo giới, ông Thể nhẩn nha giải… ngố cho cả trăm triệu người đang chờ nghe ông rằng, đại loại, theo luật thì phải đệ trình, gỉai trình, chờ ý kiến cuối cùng của các cơ quan dân cử nên không thể linh hoạt được. Thu giá thì ngược lại, chỉ phụ thuộc vào kết quả thương thảo giữa đại diện hệ thống công quyền với chủ đầu tư.

Có một điều đáng ngậm ngùi là dân chúng Việt Nam, từ giới bình dân đến các chuyên gia đủ mọi lĩnh vực quá… ngố! Bất bình với ông Thể, cậy vào Quốc hội. Không ít người, kể cả báo giới méc với Quốc hội – cơ quan đại diện cho mình là ông Thể lạm quyền, qua mặt Quốc hội. Cực chẳng đã, các viên chức cao cấp của Quốc hội đành phải lên tiếng.

Ông Nguyễn Đức Kiên, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội Việt Nam, cảnh cáo toàn dân đừng có chẻ chữ, tìm nghĩa, “thu phí” hay “thu giá” chỉ là sự khác biệt về cách gọi, phải nhìn vào bản chất của vấn đề, phải tôn trọng thực tiễn, tôn trọng cam kết của chính phủ với nhà đầu tư, phải theo luật cho đến khi Quốc hội chấp nhận xem xét, cải sửa luật.

Nhã nhặn hơn, bà Nguyễn Thanh Hải, Trưởng Ban Dân nguyện của Quốc hội Việt Nam, thừa nhận hai chữ “thu giá” lạ lẫm, người Việt chưa từng dùng, dễ gây hiểu lầm, để tránh ngộ nhận thì cần rạch ròi hơn, ví dụ tại các trạm thu phí BOT nên có bảng ghi rõ “Trạm thu giá sử dụng dịch vụ BOT do doanh nghiệp a, b, c cung cấp”. Dù gì cũng là “Trưởng Ban Dân nguyện”, không tiện khẳng định thẳng thừng, “thu giá” là đúng, dân chúng phản đối là sai, bà Hải chỉ nhắc nhở nhẹ nhàng rằng: “Khi sử dụng dịch vụ thì phải trả giá liên quan tới mức độ sử dụng dịch vụ đó, phải tuân theo nguyên tắc thị trường”!

Dường như dân chúng Việt Nam không chỉ ngố… quá mà còn ngố… lâu! Đến giờ này, họ vẫn chưa hiểu: Quốc hội, Nhà nước, Chính phủ Việt Nam là… một. Sông có thể… cạn, núi có thể… mòn. Song chân lý ấy không bao giờ… thay đổi! Đâu phải tự nhiên mà mới đây, Đảng CSVN công khai cấm bàn về tam quyền phân lập! Quốc hội và những đại biểu đại diện cho nguyện vọng, ý chí của toàn dân còn chưa… hoài thai thì làm sao có thể có mặt trên đời!

***

“Thu giá” ra đời và lập tức trở thành phổ dụng làm cho hàng trăm triệu người Việt thêm một lần tán thán về tiếng mẹ đẻ của mình.

Giống như nhiều facebooker, Võ Đắc Danh than về chuyện không có sự việc nào được gọi đúng tên, chẳng hạn “kẹt xe” giờ được thay bằng “ùn chứ không tắc”, “cướp đất” thì được biểu đạt bằng cụm từ “giải phóng mặt bằng”, “câu kết thành băng đảng để tham nhũng” thi vị hóa thành “lợi ích nhóm”... Bạn bè của Danh như Trương Quang cũng bối rối khi “cướp chính quyền” chuyển thành “giành chính quyền”. Bùi Minh Kết phát giác “đi hoài không tới, tìm hoài không thấy” nay gọi là “thời kỳ quá độ”. Trung Quan Do tin rằng “đường vào ngõ cụt” giờ đồng nghĩa với “chủ nghĩa xã hội”. Nguyễn Thông bảo “tay sai” đã thế chỗ cho từ hai từ “Quốc hội”. Theo Chu Le, về ngữ nghĩa, “ngu chết mẹ” chính là “đỉnh cao trí tuệ

Thử tra cứu lai lịch của Danh và bạn bè qua facebook thì dường như họ thuộc nhóm… nhiều chữ. Dư chữ mà vẫn mơ hồ về tiếng mẹ đẻ như thế thì rõ ràng tiếng Việt càng ngày càng… khó. Thiệt là… tội nghiệp!


“Thu giá” cung cấp thêm bằng chứng cho thấy, giữ sự trong sáng về tư duy, chân phương trong diễn đạt bằng tiếng Việt giờ đã… lạc hậu. Sự lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối của Đảng CSVN không chỉ trong phạm vi chủ trương, đường lối mà còn bao gồm cả vận dụng ngôn ngữ thành ra toàn dân “học nữa, học mãi”, học… hoài từ đời ông bà, cha mẹ đến thế hệ con cháu mà vẫn không… thông! Ai dám chê, dám cho như thế là không… tài tình?


Trân Văn
Blog VOA

Đặc khu kinh tế - thảm họa mới


Một chiếc tàu chở công nhân Trung Quốc rời cảng Vũng Áng, tháng Năm 2014.

Tuy các đại biểu của Quốc hội Việt Nam khóa 14 chưa bỏ phiếu nhưng gần như chắc chắn dự luật về “Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt” (gọi tắt là Luật Đặc khu) sẽ được họ thông qua ở kỳ họp lần thứ năm này.

Ngay sau đó, Luật Đặc khu sẽ được dùng để khai sinh cho ba đặc khu đầu tiên của Việt Nam là: Vân Đồn (Quảng Ninh), Bắc Vân Phong (Khánh Hòa), Phú Quốc (Kiên Giang).

Theo dự trù, từ nay đến 2030, chi phí xây dựng ba đặc khu vừa kể sẽ ngốn…. 1.570.000 tỉ đồng (Vân Đồn 270.000 tỉ đồng, Bắc Vân Phong 400.000 tỉ đồng, Phú Quốc 900.000 tỉ đồng) (1).

***

Đặc khu (Special Economic Zone) là cách gọi những khu vực mà việc quản lý - điều hành được thực hiện theo phương thức ưu đãi đặc biệt, khác hẳn lệ thường nhằm thu hút đầu tư ở cả bên trong lẫn bên ngoài lãnh thổ của một quốc gia, tạo thêm việc làm, tăng nguồn thu cho công quỹ. Tùy nơi, tùy hoàn cảnh mà những quốc gia quyết định thành lập các đặc khu, quyết định gọi các đặc khu của họ là gì (Khu Kinh tế, Khu Kinh tế Đặc biệt, Khu Thương mại tự do,…).

Xét về cả thông lệ quốc tế lẫn bản chất, không cần khai trương Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc thì ít nhất, Việt Nam cũng đã có 18 đặc khu, trong số này có 15 được gọi là Khu Kinh tế ven biển và ba được gọi là Khu Kinh tế (Thái Bình, Ninh Cơ, Đông Nam Quảng Trị). 18 đặc khu ấy đang chiếm 730.553 héc ta mặt đất và mặt biển. Chỉ mới tính đến cuối năm 2010, tổng vốn đầu tư cho các Khu kinh tế ở Việt Nam đã xấp xỉ 170.000 tỉ đồng (2). Chưa tìm thấy số liệu để xác định từ 2010 đến nay, chính quyền Việt Nam đã rót thêm bao nhiêu tiền cho 18 đặc khu ấy, song có thể đoan chắc, con số đó không nhỏ, không thể dưới mức hàng trăm ngàn tỉ đồng nữa.

18 đặc khu hiện có đã tạo ra những hiệu ứng tích cực nào cho kinh tế - xã hội Việt Nam? Tại sao miền Trung - khu vực có đặc khu đầu tiên (Khu Kinh tế Chu Lai - Quảng Nam, 2003), sau này có thêm hàng loạt đặc khu nữa: Khu Kinh tế Dung Quất (QuảngNgãi, 2005), Khu Kinh tế Nhơn Hội (Bình Định, 2005), Khu Kinh tế Chân Mây – Lăng Cô (Thừa Thiên – Huế, 2006), Khu Kinh tế Vân Phong (Khánh Hòa, 2006), Khu Kinh tế Nam Phú Yên (Phú Yên, 2008) vẫn nghèo? Cho tới năm ngoái, trừ Đà Nẵng, Khánh Hòa có thể đóng góp cho ngân khố quốc gia, chính quyền các tỉnh còn lại đều ngửa tay xin chính quyền trung ương trợ giúp (3).

Với thực tế như vừa kể, “kỳ vọng” từ 2020 trở đi, ba đặc khu mới là Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc sẽ giúp GDP địa phương (GRDP) tăng hàng tỉ Mỹ kim mỗi năm, từ 2030, nhờ các đặc khu này, thu nhập trung bình của dân chúng cư trú ở ba đặc khu mới sẽ đạt từ 12.000 Mỹ kim đến 13.000 Mỹ kim/người/năm… có phải là ngoa ngôn không (4)?

Những viên chức hữu trách đang tô vẽ viễn cảnh xán lạn của ba đặc khu mới, liệu có nhớ hệ thống công quyền đã từng tuyên bố những gì khi công bố chủ trương thành lập các khu kinh tế hồi đầu thập niên 2000 không? Nếu ba đặc khu mới cũng không như “kỳ vọng” sẽ có những ai sẽ chịu trách nhiệm? Chịu trách nhiệm như thế nào?

***

Giữa thập niên 1990, Ban Chấp hành Trung ương Đảng CSVN đề ra chủ trương phát triển các Khu Công nghiệp để “hiện đại hóa đất nước”. Đến nay, toàn Việt Nam có 324 khu công nghiệp, chiếm 92.000 héc ta đất nhưng hiện có khoảng 4/5 diện tích các khu công nghiệp trên toàn Việt Nam đang bỏ hoang. Ngoài thiệt hại tài chính, chủ trương phát triển các Khu Công nghiệp còn là sự lãng phí nghiêm trọng tài nguyên quốc gia (5).

Đầu thập niên 2000, Ban Chấp hành Trung ương Đảng CSVN tiếp tục đề ra chủ trương phát triển các Khu Kinh tế (Khu Kinh tế ven biển, Khu Kinh tế cửa khẩu, Cụm công nghiệp, Khu Công nghệ cao, Khu Nông nghiệp ứng dụng công nghệ). Dẫu các số liệu liên quan đến đầu tư không được bạch hóa nhưng người ta tin rằng, hệ thống công quyền Việt Nam đã rót vào các Khu Kinh tế chừng vài trăm ngàn tỉ đồng. Nếu đã từng đọc các báo cáo, nghe các cảnh báo, phân tích, nhận định về thu – chi ngân sách hàng năm, ai cũng có thể thấy mục tiêu đến năm 2020, các Khu Kinh tế sẽ đóng góp từ… 53% đến 55% GDP là vô vọng. Dấu ấn đậm nhất mà các Khu Kinh tế tạo ra là đã trải thảm, rước các dự án lọc dầu, cơ khí nặng, nhiệt điện, luyện thép,… - vốn được xem là những tác nhân hủy diệt môi trường – vào Việt Nam, chia nhau những vị trí tốt nhất, đẹp nhất dọc bờ biển (6).

Đầu thập niên 2010, dưới sự dẫn dắt của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng CSVN quyết định xây dựng các đặc khu. Giống như các Khu Công nghiệp, Khu Kinh tế, xây dựng các đặc khu là một “chủ trương lớn” nữa của giới lãnh đạo Đảng CSVN.

Tháng 10 năm ngoái, ở kỳ họp lần thứ 4, các đại biểu của Quốc hội khóa 14 nghe chính phủ Việt Nam giới thiệu dự luật về “Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt”. Giờ, ở kỳ họp lần thứ 5, theo tường thuật của báo giới Việt Nam, dự luật về “Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt” chỉ còn chờ các đại biểu “bấm nút” biến dự luật thành luật.

Các đặc khu có phải là chiếc đũa thần, biến kinh tế - xã hội Việt Nam từ Lọ Lem thành công chúa? Câu trả lời là không.

Ngày 18 tháng 5, tham gia hội thảo về “Đặc khu - Thể chế, Chính sách và Kỳ vọng thành công”, một số chuyên gia ngoại quốc khuyến cáo, trên thế giới có hàng chục ngàn đặc khu nhưng chỉ có vài trường hợp thành công. Khi tường thuật về hội thảo này, một số tờ báo nhấn mạnh cảnh báo của ông Sebastian Eckardt, Trưởng nhóm chuyên gia kinh tế làm việc tại Chi nhánh Việt Nam của Ngân hàng Thế giới: Coi chừng ba đặc khu mà Việt Nam đang hăm hở thành lập sẽ tạo ra một cuộc đua lao xuống đáy (7)!

Một số chuyên gia kinh tế Việt Nam cũng không giấu diếm băn khoăn khi con đường mà Việt Nam chọn để gầy dựng đặc khu lệch hướng (đem các đặc quyền về sử dụng đất và ưu đãi về thuế để mời gọi đầu tư). Trong số này có bà Phạm Chi Lan. Bà Lan nhắc rằng, nếu ba đặc khu mới cùng hướng đến công nghệ cao, tại sao không chọn những nơi như Sài Gòn, Hà Nội vốn đang sẵn có nguồn nhân lực với kỹ năng cao, hạ tầng tốt mà lại chọn Quảng Ninh, Khánh Hòa, Kiên Giang? Nếu thật tâm hướng đến công nghệ cao, tại sao không cải sửa các qui định để những Khu Công nghệ cao vốn đã có sẵn ở Sài Gòn, Hà Nội phát triển như mong muốn? Không phải là đặc khu thì du lịch ở Vân Đồn (Quảng Ninh) và Phú Quốc (Kiên Giang) đã phát triển, chuyển cả hai thành đặc khu, cho thêm hàng loạt ưu đãi về đất đai, thuế khóa liệu có thừa hay không? Chưa kể tạo lập các casino ở đó – chọn casino như đột phá, vận động công nhận mại dâm là hoạt động hợp pháp, xem cờ bạc, mại dâm như đôi cánh để nâng du lịch Việt Nam lên thì có nên hay không (8)?..

Đáng ngạc nhiên là đại diện cho toàn dân để “quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của nhà nước” nhưng khi thảo luận về dự luật “Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt”, không thấy đại biểu nào ở Quốc hội trăn trở trước những khuyến cáo, cảnh báo, gợi ý của các chuyên gia. Thảo luận về về dự luật “Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt” ở Quốc hội giống như thủ tục không thể không thực hiện trước khi “bấm nút”, giống như các đại biểu tiền nhiệm đã từng “bấm nút” hỗ trợ cho các “chủ trương lớn” trong quá khứ: Bơm tối đa nguồn lực quốc gia cho các tập đoàn, tổng công ty nhà nước để tạo dựng nền tảng của “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Khai thác bauxite ở Tây Nguyên. Chi hàng trăm ngàn tỉ để “xây dựng nông thôn mới”…

***

Tuần vừa qua, ông Nguyễn Chí Dũng, Bộ trưởng Kế hoạch – Đầu tư, liên tục khẳng định với báo giới trong nước và quốc tế rằng, ba đặc khu kinh tế đang chờ các đại biểu Quốc hội “bấm nút”, cấp khai sinh sẽ là “sân chơi mới”. Tại đó, doanh giới sẽ được “ưu đãi mọi khía cạnh”: Miễn thuế thu nhập doanh nghiệp 4 năm, giảm 50% số thuế phải nộp trong chín năm tiếp theo kể từ khi có thu nhập chịu thuế. Được hưởng thuế suất 10% trong 30 năm. Riêng thu nhập từ đầu tư - kinh doanh bất động sản sẽ được áp dụng thuế suất ưu đãi 17%...

Thật ra, những ưu đãi ấy đâu có mới. Có thể ông Dũng mắc chứng “suy giảm trí nhớ” nên quên là hệ thống công quyền Việt Nam từng dành những ưu đãi y hệt như thế cho… Formosa: Luật chỉ cho phép cho thuê đất 50 năm nhưng Formosa được thuê đất tới 70 năm. Từ năm thứ 16 Formosa mới phải trả tiền thuê đất. Chỉ tính thuế thu nhập doanh nghiệp khi có thu nhập chịu thuế và tỷ lệ chỉ là 10% thay vì phải 25% như thông lệ. Chưa kể khi có thu nhập chịu thuế còn được miễn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp trong 4 năm và trong 9 năm sau đó được giảm 50% tính trên tổng số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp (9).

Tháng 6 năm 2014, Formosa đề nghị cho phép lập “Đặc khu kinh tế gang thép Vũng Áng” với Ban Quản lý “trực thuộc Văn phòng Chính phủ” (10). Formosa còn đề nghị: Thiết lập cơ chế bảo hộ ngành thép. Ưu đãi cân đối ngoại tệ trong phạm vi hạng mục kinh doanh. Trực tiếp vay vốn từ các tổ chức tài chính nước ngoài. Miễn thu thuế khấu trừ tại nguồn. Miễn thuế nhập khẩu máy móc, thiết bị và nguyên vật liệu... Thậm chí “được cắt đất để bán cho khoảng 15.000 nhân viên mà nếu tính cả thân nhân thì khoảng 60.000 người nhằm xây dựng một thị trấn”.

Bởi dân chúng, báo giới Việt Nam sôi lên vì giận, nhiều chuyên gia tại Việt Nam xúm vào phân tích – chứng minh các đề nghị của Formosa “không bình thường” và “không phù hợp với khung pháp luật của Việt Nam hiện nay”, nên cuối cùng, chính phủ Việt Nam bác bỏ ý tưởng thành lập“Đặc khu kinh tế gang thép Vũng Áng” của Formosa.

Formosa nâng kinh tế - xã hội Việt Nam lên hay nhận kinh tế - xã hội Việt Nam chìm xuống sâu hơn thì câu trả lời đã có và còn ai không thấy, không biết?

Chỉ cần vài ngày nữa, sau khi Quốc hội “bấm nút”, dự luật về “Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt” sẽ trở thành luật, những “nhà đầu tư” giống như Formosa có thể hiên ngang bước tới vì “khung pháp luật của Việt Nam hiện nay” đã “phù hợp”. Thảm họa cho an ninh kinh tế, an ninh tài chính, môi trường mà nhiều chuyên gia cả trong lẫn ngoài Việt Nam âu lo vì khó tránh đâu có xảy ra lúc này. Đó là chuyện vài năm nữa. Lúc đó các viên chức lãnh đạo Đảng, Quốc hội, Nhà nước, Chính phủ đều đã nghỉ hưu. Hơi đâu mà lo.

Trân Văn
Blog VOA
Chú thích

(1) http://nhipcaudautu.vn/thuong-truong/viet-nam-dang-danh-cuoc-lam-dac-khu-kinh-te-3324043/

(2) http://enternews.vn/18-khu-kinh-te-cua-viet-nam-da-duoc-quy-hoach-17481.html

(3) http://thuonggiaonline.vn/nhung-tinh-thanh-nao-nop-ngan-sach-cao-nhat-nuoc-5690.htm

(4) https://news.zing.vn/3-dac-khu-kinh-te-viet-nam-don-to-don-phuong-hoang-post752577.html

(5) https://www.tienphong.vn/kinh-te/bo-hoang-dat-vang-khu-cong-nghiep-1068011.tpo

(6) http://dantri.com.vn/kinh-doanh/chuyen-gia-wb-lo-ba-dac-khu-phat-sinh-cuoc-dua-xuong-day-20180518100939228.htm

(7) http://dantri.com.vn/kinh-doanh/chuyen-gia-wb-lo-ba-dac-khu-phat-sinh-cuoc-dua-xuong-day-20180518100939228.htm

(8) http://viet-studies.net/kinhte/DacKhuKinhTe_PCLan.html

(9) https://tuoitre.vn/lo-boacutep-chet-ngagravenh-theacutep-trong-nuoc-618010.htm

(10) http://www.thesaigontimes.vn/116684/Formosa-Ha-Tinh-doi-lap-dac-khu-Vung-Ang.html

Võ Văn Thưởng bàn về chủ nghĩa dân túy: Ngụy biện hay dối trá?


“Dối trá và lừa lọc là hành động của kẻ ngu xuẩn, là những kẻ không có đủ trí óc để trung thực” – Benjamin Franklin

Võ Văn Thưởng, Trưởng ban Tuyên giáo. Ảnh: Internet

Người Việt thường dùng câu thành ngữ “Lo bò trắng răng” hoặc “Lo bò trống răng” để nhắc nhở người khác đừng lo lắng chuyện hảo huyền, viển vông không có khả năng xảy ra. Nay tôi cũng mượn câu thành ngữ này để trấn an trưởng ban tuyên giáo trung ương Võ Văn Thưởng về nỗi lo “chủ nghĩa dân túy” sẽ “xuất hiện ở Việt Nam”.

Tôi không nhịn được cười khi bắt gặp sự hoang tưởng pha lẫn với ấu trĩ trong bài “Chủ nghĩa dân túy và những cảnh báo đối với Việt Nam” của Võ Văn Thưởng, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương. Thú thực, tôi không có ý định đọc bài này bởi phản xạ hình thành sau gần 20 năm bị tẩy não: “Không quan tâm” các bài viết sặc mùi tuyên truyền dối trá của ban tuyên giáo. Tôi nghĩ không chỉ riêng tôi mà còn rất nhiều anh chị khác nữa cũng chọn thái độ mặc kệ và khinh bỉ khi nhìn thấy những bài viết mị dân của ban tuyên giáo. Bản chất dối trá và bịp bợm của chế độ đã bị vạch trần sau hơn 70 năm đảng cộng sản độc tài lãnh đạo đất nước. Tuy nhiên, tôi tự thuyết phục mình hãy kiên nhẫn đọc lướt qua bài của Thưởng, để xem kiến thức cũng như trình độ lý luận của Trưởng ban Tuyên giáo tầm cỡ đến đâu.

Võ Văn Thưởng viết “Chủ nghĩa dân túy và những cảnh báo đối với Việt Nam” là nhằm “phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn các biểu hiện dân túy ở nước ta hiện nay”. Tuy nhiên, tôi thiết nghĩ động cơ chính của Thưởng không phải như thế, mà là “vạch áo cho người xem lưng”, cốt để mọi người thấy được sự dối trá và lừa bịp của ban tuyên giáo.

Vì sao tôi lại nghĩ như thế? Thưa, bởi chính Võ Văn Thưởng đã tự tố cáo và phơi bày điều đó. Võ Văn Thưởng trích dẫn nhận xét của các nhà phân tích chính trị rằng: “Có một cơ hội rất thực rằng sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân túy có thể trở thành hiện tượng chính trị quyết định trong thập kỷ tới, không chỉ ở Mỹ hay châu Âu mà ở khắp các nền dân chủ phát triển”.

Sau đó, Thưởng kết luận: “Liệu chủ nghĩa dân túy có xuất hiện ở Việt Nam khi mà trên thế giới nguy cơ của nó đang hiện hữu và có xu hướng mở rộng? Câu trả lời là: Không có gì là không thể”. Rõ ràng, Thưởng đã tự vạch trần sự ấu trĩ, ngụy biện và bản chất dối trá của Ban Tuyên giáo và chính bản thân mình bằng những lập luận trên.

Thứ nhất, Võ Văn Thưởng hoặc không hiểu thế nào là chủ nghĩa dân túy hoặc “mập mờ, đánh lận con đen”. Cụm từ “chủ nghĩa dân túy” – populism bắt nguồn từ chữ Latin “populus”, có nghĩa là “nhân dân”, và có sự liên hệ chặt chẽ với thể chế dân chủ. Các nhà khoa học chính trị đã đồng thuận với nhau rằng nơi đâu có dân chủ, thì ở đó có thể sẽ có chủ nghĩa dân túy.

Chủ nghĩa dân túy (populism) giản dị là một khuynh hướng chính trị, trong đó các nguyên thủ quốc gia thường tấn công các định chế và chuẩn mực dân chủ, bao gồm tấn công tự do báo chí, độc lập tư pháp và mị dân rằng, hệ thống chính trị hiện tại yếu kém, thiếu minh bạch và các chính trị gia quyền thế (the elites) đã bỏ quên nhân dân (the people) để họ phải sống trong thất vọng và kinh tế khó khăn. Và chỉ có những lãnh đạo mạnh mẽ (strongman) như họ mới có thể giải thoát người dân khỏi thực trạng chính trị tệ hại này. Sở dĩ người dân ở các quốc gia dân chủ đang nỗ lực tố cáo và lên án sự nguy hiểm của chủ nghĩa dân túy là vì, họ quý trọng dân chủ và muốn bảo vệ dân chủ khỏi sự độc hại và mị dân của các nhà lãnh đạo dân túy.

Hoặc Võ Văn Thưởng đang bị hoang tưởng, hoặc trí nhớ suy giảm nghiêm trọng khi quên rằng Việt Nam vẫn đang là một đất nước độc đảng, nghĩa là ngoài đảng Cộng sản ra, không một tổ chức chính trị đối lập nào được phép hình thành và hoạt động. Trong khi, chủ nghĩa dân túy chỉ có thể trỗi dậy ở những quốc gia đã thiết lập và vận hành thể chế dân chủ, thì Việt Nam – một đất nước độc tài toàn trị, có gì để lo ngại với chủ nghĩa dân túy?

Sự xuất hiện và trỗi dậy của chủ nghĩa dân túy thường gắn liền với khủng hoảng của hệ thống dân chủ và sự bất mãn đối với những nhà lãnh đạo được bầu chọn: Người dân cảm thấy lợi ích của họ đã bị tầng lớp quyền thế bỏ rơi. Còn chủ nghĩa Cộng sản ở Việt Nam thì sao? Từ lúc nắm quyền năm 1945 cho đến nay, đảng Cộng sản chưa một lần đặt lợi ích dân tộc lên trên sự tồn vong của chế độ. Đảng Cộng sản – một tổ chức không có tính chính đáng, thiếu tính chính danh, lại càng không chính nghĩa – xem đại đa số người dân là nô lệ, phục tùng cho quyền lợi của chế độ, thì còn ác độc và vô đạo đức hơn lãnh đạo dân túy. Thật nực cười và không khỏi tức giận khi nghe một băng cướp vừa giết người không gớm tay, vừa “nói láo như vẹm” (lãnh đạo cộng sản) lên giọng phê bình những kẻ đang tập tành dối trá (lãnh đạo dân túy).

Thứ hai, nếu xét về mức độ nguy hiểm, khủng khiếp và kinh hoàng có thể gây ra với một quốc gia, thì chủ nghĩa dân túy chẳng là gì so với chủ nghĩa Cộng sản, được đánh giá là thứ chủ nghĩa độc ác và dã man nhất trong lịch sử nhân loại. Chủ nghĩa dân túy chỉ là một tên trộm đang tập tành lừa lọc để chiếm đoạt niềm tin của người dân; trong khi chủ nghĩa Cộng sản đã được chứng thực là một băng đảng tàn bạo, chuyên thảm sát hàng loạt và lừa bịp, nhằm đe dọa người dân, làm tê liệt sự kháng cự, và cướp đoạt những quyền tự do tối thiểu nhất của con người.

Thế kỉ đẫm máu của chủ nghĩa Cộng sản đã giết chết hơn 65 triệu người ở Trung Quốc, hơn 20 triệu người ở Liên bang Soviet, khoảng 2 triệu người ở Bắc Hàn, hơn 1 triệu người ở Việt Nam, hàng trăm ngàn người ở Cuba, và ít nhất 1.5 triệu người ở Campuchia. Chưa dừng lại ở đó, chế độ Cộng sản sử dụng mọi thủ đoạn đê hèn của bạo lực và bịp bợm để cưỡng ép người dân thành nô lệ. Những nước tôn thờ chủ nghĩa Cộng sản như, Liên bang Soviet, Cuba, Trung Quốc, Bắc Hàn và Việt Nam đều chia sẻ những mẫu số chung: Đói nghèo, khóc than, tha hóa đạo đức, vô pháp và đầy dẫy bất công.

Thế giới lên án sự tàn ác của chủ nghĩa phát xít Đức của Hitler vì đã tàn sát dã man hàng triệu người Do Thái. Trong thực tế, Đức quốc xã của Hitler thảm sát người Do Thái và rất ít giết hại chính người Đức vì sự căm thù, có phần sợ hãi của Hitler đối với người Do Thái. Ngược lại, các lãnh đạo Cộng sản thì lại tàn sát chủ yếu là đồng bào của chính đất nước mình, chỉ bởi vì dám bày tỏ thái độ khinh ghét chủ nghĩa Cộng sản. Rõ ràng, không một thứ chủ nghĩa nào vượt qua chủ nghĩa Cộng sản về mức độ man rợ và tàn ác.

Cuối cùng, một đặc điểm gần giống nhất giữa chủ nghĩa dân túy và chủ nghĩa Cộng sản đó là nạn sùng bái cá nhân và mị dân. Theo giáo sư khoa học chính trị Francis Fukuyama, các nhà lãnh đạo dân túy có khuynh hướng sùng bái cá nhân, tuyên bố họ được giao sứ mệnh nắm giữ quyền lực. Tương tự, để duy trì quyền lực cai trị, đảng Cộng sản cũng tạo ra nạn sùng bái cá nhân xung quanh Hồ Chí Minh, xem nó là một công cụ hữu ích, giúp đảng Cộng sản dập tắt sự chỉ trích và phản đối của người dân đối với chế độ.

Lịch sử nhân loại đã chứng minh bậc thầy của tuyên truyền dối trá chính là những người Cộng sản. Nên nhớ, chỉ ở những nước Cộng sản mới có “Ban Tuyên giáo” với lực lượng đông đảo, có nhiệm vụ duy nhất là sản suất những thông tin sai lệch, lừa đảo và bịp bợm nhằm mị dân. Để có cái nhìn công tâm về chính sách tẩy não của đảng Cộng sản, hãy đọc lời nhận xét trung thực của Trung tướng Trần Độ, cựu ủy viên Trung ương đảng, kiêm Phó Chủ tịch Quốc hội:

Bộ máy cai trị bây giờ ngày đêm chỉ lo xây dựng bộ máy tuyên truyền, lo cổ động rầm rộ, dùng những lưỡi gỗ’ xây dựng và truyền lan các thứ ‘lý luận’, ‘nói lấy được’, dùng mọi thủ đoạn lừa bịp, dối trá, nguỵ biện để nhằm một mục đích duy nhất là duy trì và giữ vững bộ máy cai trị mà họ gọi là ‘sự lãnh đạo của Đảng’.” (Nhật Ký Rồng Rắn)

Thay Lời Kết

Tại các quốc gia dân chủ đang lo ngại các lãnh đạo dân túy, người dân vẫn được bảo đảm những quyền tự do căn bản nhất: Quyền tự do ngôn luận và quyền tự do lập hội. Họ vẫn tự do lên tiếng phê bình, chỉ trích và thành lập các lực lượng phản đối lãnh đạo dân túy. Ngược lại, đại đa số người dân Việt Nam vẫn đang bị đảng Cộng sản cướp đoạt những quyền tự do căn bản nhất. Chủ nghĩa dân túy như là một bình mực bẩn, gây ô nhiễm một hồ nước trong lành – thể chế dân chủ. Còn chủ nghĩa Cộng sản như là một hồ nước đen do đầy chất độc, bẩn. Lo lắng một bình mực bẩn gây ảnh hưởng cho một hồ nước bẩn thỉu, đen như mực, thì chỉ có thể hoang tưởng hoặc thần kinh mà thôi.

Là người đứng đầu bộ máy tuyên truyền, Võ Văn Thưởng dư khả năng hiểu rằng, đảng Cộng sản Việt Nam đã “hết thời” lừa lọc và bịp bợm. Tổng thống Abraham Lincoln đã nói : “Anh có thể lừa dối một số người trong mọi lúc, và lừa dối mọi người trong vài lúc, nhưng anh không thể mãi mãi lừa dối tất cả mọi người”. Nếu nghi ngờ nhận định của tôi, Võ Văn Thưởng hãy tổ chức một cuộc thăm dò công bằng và minh bạch toàn quốc, về niềm tin của người dân đối với Ban Tuyên giáo và đảng Cộng sản, để thấy rõ niềm tin của nhân dân Việt Nam đối với chế độ đã cạn kiệt như thế nào.

Trung tướng Trần Độ, một quan chức Cộng sản cao cấp, còn ngao ngán, bất mãn trước bản chất gian dối của chế độ: “Nói thì ‘dân chủ, vì dân’, mà làm thì chuyên chính phát xít. Cái đặc điểm đó cũng có nghĩa là nói dối, nói láo, lừa bịp, trò hề ‘nói vậy mà không phải vậy’. Suốt ngày đóng trò, cả năm đóng trò, ở đâu cũng thấy các vai hề, ở đâu cũng thấy các trò lừa bịp. Suốt ngày đêm, suốt năm tháng cũng lúc nào cũng chỉ nghe thấy những lời nói dối, nói lừa.

Chế độ này bắt mọi người phải đóng trò, bắt tất cả trẻ con phải đóng trò, bắt nhiều người già phải đóng trò. Đặc điểm này đã góp phần quyết định vào việc tạo ra và hình thành một xã hội dối lừa: lãnh đạo dối lừa, Đảng dối lừa, cán bộ dối lừa, làm ăn giả dối, giáo dục dối lừa, bằng cấp giả dối, đến gia đình cũng lừa dối, lễ hội lừa dối, tung hô lừa dối, hứa hẹn lừa dối. Ôi, cay đắng thay!” (Nhật Ký Rồng Rắn)

Suy cho cùng, mức độ mị dân và ác độc của các nhà lãnh đạo dân túy vẫn còn thua xa so với lãnh đạo Cộng sản. Là người đứng đầu Ban Tuyên giáo – chuyên chà đạp sự thật và định hướng dư luận, Võ Văn Thưởng biết và hiểu sự thật hiển nhiên này hơn bất kỳ ai.

Đáng lý ra, thay vì hoang tưởng cảnh báo nguy cơ dân túy ở Việt Nam, Võ Văn Thưởng phải hét lên cảnh báo đảng Cộng sản về sự thần phục đớn hèn “quỳ gối cúi đầu” và lệ thuộc quá đáng trước Trung Quốc.

Chế độ cộng sản mà Võ Văn Thưởng đang ra sức bảo vệ là một tai họa kéo dài đối với nhân dân: Độc ác, dối trá, và tham nhũng. Tai họa khốn khổ này đã khiến người dân cảm thấy chán chường, vô vọng và cuối cùng xem tổ quốc Việt Nam là một gánh nặng, thay vì một tình cảm gắn bó, thiêng liêng. Ý niệm quốc gia dân tộc dường như đang thoi thóp trong lòng nhiều người. Võ Văn Thưởng hãy chấm dứt “lo bò trắng răng”, để cảnh báo những hiểm họa nghiêm trọng này với đồng đảng.

Trên hết, thay vì “phỉnh chúng, lừa đờingăn chặn các biểu hiện dân túy ở nước ta hiện nay”, Võ Văn Thưởng cần dũng cảm cảnh báo chóp bu đảng là chế độ Cộng sản đã thất bại trên mọi phương diện, yêu cầu đảng giải thể, dân chủ hóa đất nước, và tổ chức các cuộc bầu cử tự do, công bằng với sự tham gia của các chính đảng đối lập. Một Việt Nam dân chủ đa nguyên thực sự, dựa trên lòng yêu nước và tinh thần hòa giải & hòa hợp dân tộc, sẽ là nền tảng quan trọng hạn chế sự hồi sinh của các khuynh hướng chính trị mị dân và chuyên chế.


“Dictatorships foster oppression, dictatorships foster servitude, dictatorships foster cruelty; more abominable is the fact that they foster idiocy” – Jorge Luis Borges. (Các chế độ độc tài ấp ủ sự phản kháng, nuôi dưỡng nô lệ, sự tàn bạo; nhưng ghê tởm hơn là chúng nuôi dưỡng sự ngu dốt).


© Mai V. Phạm

Ông Trọng đã vung tay quá trán?


Ông Trọng đã vung tay quá trán?

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Hội đồng Lý luận Trung ương, tác giả Nghị quyết “Xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ” (Số 26-NQ/TW) đã muốn vung tay quá trán, hay biết khó khăn mà vẫn liều, khi ấn định đến năm 2020, năm áp chót của khóa đảng XII, sẽ “kiên quyết xoá bỏ tệ chạy chức, chạy quyền; ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái, ‘tự diễn biến’, ‘tự chuyển hoá’ trong cán bộ, đảng viên”.

Liệu canh bạc may rủi này có giúp ông Trọng và Ban chấp hành Trung ương khóa XII bảo vệ được chỗ đứng trong lịch sử đảng là những người đầu tiên thành công trong các lĩnh vực khó khăn này, hay tên tuổi họ sẽ bị nhấn xuống bùn đen khi khóa đảng XIII bắt đầu nhiệm kỳ mới (2021-2026)?

Tuy còn sớm để đo lòng dạ cán bộ đảng viên khi Nghị quyết Trung ương 7, khóa XII được thi hành, nhưng nếu căn cứ vào thất bại của các khóa đảng trước, kể cả khóa XI và XII do ông Trọng lãnh đạo, thì khả năng thành công của ông không nhiều vì thời gian chỉ còn hơn 2 năm.

CHUYỆN DÀI-DÀI THÊM

Cũng nên biết các tệ nạn “chạy chức, chạy quyền, chạy tuổi, chạy quy hoạch, chạy luân chuyển, chạy bằng cấp, chạy tội v.v…” và tình trạng “suy thoái tư tưởng và đạo đức, lối sống” của cán bộ, đảng viên đã thoải mái sống chung với đảng và được nói đến từ khóa đảng VII thời Tổng Bí thư Đỗ Mười chứ có mới mẻ gì đâu.

Thế mà sau gần 30 năm, từ khóa đảng VII đến gữa khóa XII, các cán bộ, đảng viên chuyên nghiệp “chạy” đã “chạy” nhanh hơn và số người suy thoái cũng đã sinh sôi nẩy nở năm sau nhiều hơn năm trước.

Đến bây giờ (tháng 5 năm 2018), dù khóa đảng XII và ông Nguyễn Phú Trọng đã đi được nửa nhiệm kỳ 5 năm, nhưng vấn đề xây dựng và chỉnh đốn đảng, dù được thi hành từ Nghị quyết đầu tiên (số 10-NQ/TW) ngày 02/02/1999 của Trung ương 6 (lần 2), khóa đảng VIII (thời Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu) “Về một số vấn đề cơ bản và cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay”, vẫn cứ thoải mái trăm hoa đua nở khắp nơi.

Vì vậy mà ông Trọng, sau khi thay Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh của 2 khóa đảng IX và X, đã phải bổ sung thêm 2 Nghị quyết với nhiều chi tiết mới, cụ thể và cấp bách hơn về tình trạng suy thoái và xuống cấp của cán bộ, đảng viên.

Đó là:

– Nghị quyết số 12-NQ/TW, ngày 16/01/2012, Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) Về một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay.

– Nghị quyết số 04/NQ-TW ngày 30/10/2016, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ.

MỤC TIÊU NGHỊ QUYẾT 7

Từ hai Nghị quyết này, ông Trọng chủ trương đổi mới cả hệ thống chính trị bằng những con người mới và tư duy mới trong nhiệm vụ lãnh đạo và công tác phục vụ trong cán bộ đảng, viên chức nhà nước, Quân đội và Công an.

Tham vọng thì nhiều, nhưng Hội nghị Trung ương 7 lại khoán trắng đặc quyền về cán bộ cho đảng thì có mới mẻ gì hơn xưa?

Nghị quyết viết: “Thực hiện nghiêm, nhất quán nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo trực tiếp, toàn diện công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị”.

Như vậy là dân chỉ có quyền “ngồi chơi xơi nước”. Mọi việc đã có đảng làm cho người của đảng thì quyền làm chủ đất nước của dân và bổn phận làm đấy tớ cho dân của cán bộ, đảng viên có lằn ranh nào ngăn cách không?

Đó là lý do Nghị quyết phải vẽ ra điều gọi là “Phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng đội ngũ cán bộ”.

Trung ương 7 viết: “Thể chế hoá, cụ thể hoá và tổ chức thực hiện có hiệu quả các quy định của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về công tác giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội và nhân dân tham gia xây dựng đội ngũ cán bộ”.

Các chữ “giám sát, phản biện xã hội” nghe qua tưởng quan trọng lắm, nhưng thực chất chỉ là hình thức dân chủ giả tạo để trang trí cho đảng. Từ xưa đến nay cái “cơ chế dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” đã bị đảng coi thường trên nhiều lĩnh vực.

Ngay đến Tổ chức Mặt trận Tổ quốc, nơi quy tụ hàng trăm Tổ chức Chính trị-Xã hội do đảng thành lập, hay được đảng cho phép hoạt động có làm nên cơm cháo gì giúp dân đâu. Tổ chức lãng phí tiền bạc của dân này là cơ quan ngoại vi làm việc cho đảng. Công tác nổi bật nhất của tổ chức này là chọn ứng cử viên Quốc hội và các Hội dồng Nhân dân giúp đảng để cho dân bỏ phiếu, qua các cuộc gọi là “hiệp thương”. Vì cậy, với phương thức “đảng cử dân bầu” này, rất hiếm hoi có ứng cử viên nào được ra ứng cử và đắc cử, nếu không lọt qua cửa ải “hiệp thương” của Mặt trận.

LẠI MÁC-LÊNIN-HCM

Ngoài ít điều nêu trên, Nghị quyết “Xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ” còn ràng buộc công tác chọn lọc cán bộ phải tập trung vào các tiêu chuẩn tuyệt đối trung thành với Đảng, Chủ nghĩa Mác-Lenin và tư tưởng Cộng sản Hồ Chí Minh.

Một số điểm quan trọng viết trong Nghị quyết có nội dung như thế:

– “Quán triệt sâu sắc, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; quán triệt và thực hiện nghiêm Cương lĩnh, Điều lệ, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là về công tác cán bộ, xây dựng và quản lý đội ngũ cán bộ. Kiên quyết đấu tranh với những quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc; mở rộng các hình thức tuyên truyền, nhân rộng những điển hình tiên tiến, những cách làm sáng tạo, hiệu quả”.

– “Tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và thế hệ trẻ, trong đó chú trọng nội dung xây dựng Đảng về đạo đức, truyền thống lịch sử, văn hoá của dân tộc; kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa đào tạo với rèn luyện trong thực tiễn và đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Thực hiện nghiêm túc chế độ học tập, bồi dưỡng lý luận chính trị và cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, nhất là cán bộ trẻ được đào tạo ở nước ngoài”.

– “Đối với cán bộ lãnh đạo, chỉ huy quân đội, công an: Tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân; có ý thức tổ chức kỷ luật nghiêm, sức chiến đấu cao; có số lượng và cơ cấu hợp lý, đáp ứng yêu cầu xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; từ 20 – 30% đủ khả năng làm việc trong môi trường quốc tế”.

SỢ DIỄN BIẾN-CHUYỂN HÓA

Cũng đáng chú ý là trong Nghị quyết 7, đảng đã nói đi nói lại nhiều lần phải đặc biệt quan tâm đến vấn đề tư tưởng chính trị của cán bộ, đảng viên. Điều này cho thấy đảng muốn đề phòng tình trạng “tự diễn biến” và “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, nhất là số 600 cấp lãnh đạo chiến lược, từ khóa đảng XIII trở về sau.

Đảng chỉ thị phải:

– “Tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ: Nắm chắc lịch sử chính trị và tập trung vào vấn đề chính trị hiện nay. Hoàn thiện quy định để xử lý, sử dụng những trường hợp có vấn đề về chính trị. Không xem xét quy hoạch, bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử khi chưa có kết luận về tiêu chuẩn chính trị”.

– “Rà soát kỹ, bổ sung đầy đủ thông tin, đánh giá chính xác, nắm chắc vấn đề chính trị của cán bộ”.
Từ đó, Nghị quyết viết ra kế hoạch: “Thời gian tới cũng là giai đoạn chuyển giao thế hệ từ lớp cán bộ sinh ra, lớn lên, được rèn luyện, trưởng thành trong chiến tranh, chủ yếu được đào tạo ở trong nước và tại các nước xã hội chủ nghĩa, sang lớp cán bộ sinh ra, lớn lên, trưởng thành trong hoà bình và được đào tạo từ nhiều nguồn, nhiều nước có thể chế chính trị khác nhau.
Tình hình đó tác động mạnh mẽ, toàn diện, sâu sắc đến công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ”.

Ngoài ra, còn có điểm mới trong Nghị quyết 7 là đảng CSVN đồng ý thu nhận cả nhân tài “người ngoài đảng” dù ở trong nước hay ở nước ngoài.

Nghị quyết viết: “Quy định khung cơ chế, chính sách ưu đãi để phát hiện, thu hút, trọng dụng nhân tài có trọng tâm, trọng điểm, nhất là các ngành, lĩnh vực mũi nhọn phục vụ cho phát triển nhanh, bền vững. Xây dựng Chiến lược quốc gia về thu hút và trọng dụng nhân tài theo hướng không phân biệt đảng viên hay người ngoài Đảng, người Việt Nam ở trong nước hay ở nước ngoài”.

Đây là tư duy mới, có thể sẽ được hoan nghênh theo hướng “hòa hợp hòa giải dân tộc”. Tuy nhiên, nếu những ứng cử viên hay người được chọn làm cán bộ cho đảng cũng phải tuyệt đối trung thành với Đảng, Chủ nghĩa Mác-Lenin và tư tưởng Cộng sản Hồ Chí Minh thì lá bài “người ngoài đảng ở trong nước hay ở nước ngoài” có nghĩa gì không?


Hay Nghị quyết 7 là tín hiệu phải tìm mọi cách và bằng mọi giá để giữ đảng khỏi tan trước cơn hồng thủy suy thoái tư tưởng và tự diễn biến, tự chuyển hóa của cán bộ, đảng viên?


© Phạm Trần
 
website statistics
Top ↑ Copyright © 2011. Người Đưa Tin - All Rights Reserved
Back To Top ↑