Nhà nghiên cứu Trần Đức Anh Sơn: ‘Bãi Tư Chính hoàn toàn của Việt Nam’ - Người Đưa Tin

Breaking

Post Top Ad

Thứ Năm, 8 tháng 8, 2019

Nhà nghiên cứu Trần Đức Anh Sơn: ‘Bãi Tư Chính hoàn toàn của Việt Nam’


Lời Tòa Soạn: Cuộc đối đầu giữa tầu hải cảnh Trung Quốc và Việt Nam tại bãi Tư Chính trên Biển Đông đang trở nên ngày càng căng thẳng hơn. Diễn biến mới nhất, đã có tới 80 tàu Hải Cảnh và các loại tàu khác của Trung Quốc đang hiện diện ở bãi Tư Chính kể từ cuối Tháng Năm, 2019 đến nay. Liên quan đến sự kiện này, nhật báo Người Việt đã có cuộc phỏng vấn với Tiến Sĩ sử học Trần Đức Anh Sơn, người có hơn 10 năm nghiên cứu về Biển Đông, và hiện sống tại Đà Nẵng.

Qua việc phân tích lịch sử tranh chấp chủ quyền và nguyên nhân chính dẫn tới tình hình tranh chấp hiện nay tại bãi Tư Chính, ông Trần Đức Anh Sơn khẳng định “bãi Tư Chính hoàn toàn của Việt Nam!”

Nhà nghiên cứu lịch sử Biển Đông Trần Đức Anh Sơn. (Hình: Facebook Trần Đức Anh Sơn)

Nhà nghiên cứu lịch sử Trần Đức Anh Sơn cho biết, bãi Tư Chính nằm trên thềm lục địa phía nam của Việt Nam, nhưng có lúc đã bị xếp nhầm vào quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Sau này người ta đã điều chỉnh và bãi Tư Chính là một trong sáu bãi ngầm Việt Nam đang làm chủ. Trên đó Việt Nam đã xây dựng các outspots để bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên vùng biển có các bãi ngầm này. Bãi Tư Chính hoàn toàn nằm trong phạm vi 350 hải lý trên thềm lục địa Việt Nam và nằm trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) 200 hải lý của Việt nam. Nghĩa là theo luật biển quốc tế, bãi Tư Chính không phải là khu vực đang có tranh chấp chủ quyền giữa các bên có liên quan ở trên Biển Đông là Việt Nam, Trung Quốc, Philippines, Malaysia, Brunei và Đài Loan. Việt Nam có quyền chủ quyền và quyền tài phán về Bãi Tư Chính. Bất cứ hoạt động nào của một quốc gia kể cả thăm dò hoặc nghiên cứu khoa học ở trên các khu vực vùng biển kể cả Bãi Tư Chính cũng đều phải được sự đồng ý của nhà nước Việt Nam. Đó là về mặt pháp lý.

Về mặt lịch sử, chúng ta biết rằng Trung Quốc đến sau trong các vấn đề chiếm hữu, xác lập và thực thi chủ quyền trên các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và Biển Đông mà ngày nay Trung Quốc đang lớn tiếng tranh giành chủ quyền.

Cuốn sách của nhà báo người Anh Bill Hayton có tên “Biển Đông và cuộc đấu tranh giành quyền lực ở Châu Á” xuất bản ở Hoa Kỳ vào năm 2014 cho biết: người Trung Quốc không hề có hoạt động thăm dò, chiếm hữu và tuyên bố chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho đến thời điểm vào ngày 6 tháng 6 năm 1909, là thời điểm mà một vị là Tổng đốc Lưỡng Quảng (Quảng Đông – Quảng Tây) người Trung Quốc là Trương Nhân Tuấn, sai Phó Đề đốc thủy quân Lý Chuẩn chỉ huy ba chiến thuyền của Trung Quốc dưới sự dẫn dắt của các hoa tiêu người Đức đi từ Quảng Đông ra thị sát quần đảo Hoàng Sa, mà Trung Quốc gọi là Tây Sa quần đảo. Họ chỉ lên đó trong vòng 24 tiếng đồng hồ rồi họ rút lui, và họ tuyên bố đã chiếm hữu một “quần đảo vô chủ” (sic.), và gọi chuyến đi đó là “thị sát Tây Sa”.

Hai khu vực tập trận có bắn tên lửa của TQ từ 29 Tháng Sáu đến 3 Tháng Bảy, 2019. (Hình: Trần Đức Anh Sơn)

Bãi Cát Vàng (Hoàng Sa) của Việt Nam từ thời Chúa Nguyễn

Trên thực tế, quần đảo này hoàn toàn không phải “vô chủ” như chính quyền Hoa Nam rêu rao, mà quần đảo này đã được các Chúa Nguyễn ở Đàng Trong (của Việt Nam) chiếm hữu từ thế kỷ XVII. Các chúa Nguyễn đã tổ chức những hoạt động mang tính chất nhà nước để chiếm hữu quần đảo này, thông qua việc thành lập các hải đội Hoàng Sa, cử binh thuyền ra đó để thu nhặt những của cải trên các tàu bị đắm trong vùng biển thuộc quần đảo Hoàng Sa và sau đó là quần đảo Trường Sa với các hoạt động của đội Bắc Hải. Bấy giờ người Việt gọi tên quần đảo này là Bãi Cát Vàng. Tên gọi này đã được ghi trong các tài liệu bằng chữ Hán và chữ Nôm của các học giả Việt. Tài liệu xưa nhất mà chúng ta biết đến hiện này là tập bản đồ Toản tập thiên Nam tứ chí lộ đồ thư (hay Toản tập An Nam lộ) do Đỗ Bá, tự là Công Đạo, người Nghệ An công bố năm 1686. Trong Toản tập này, Đỗ Bá đã vẽ bản đồ đạo Quảng Nam, vùng biển ngoài khơi này có quần đảo ghi tên Bãi Cát Vàng bằng chữ Nôm và có chú thích cho biết hàng năm các chúa Nguyễn ở Đàng Trong đã cử đội Hoàng Sa ra ngoài đó thu nhặt hóa vật và khai thác hải vật mang về nộp cho triều đình các chúa ở Phú Xuân. Tháng Ba đi Tháng Tám về.

Sau đó sử liệu triều Nguyễn cho biết Mạc Cửu, một người Trung Hoa di cư về phía Nam và có công khai phá đất Hà Tiên, rồi dâng đất Hà Tiên nhập vào lãnh thổ của chúa Nguyễn ở Đàng Trong. Mạc Cửu được chúa Nguyễn phong chức Tổng trấn Hà Tiên, cho quyền thế tập. Năm 1701, Mạc Cửu đã trình lên Chúa Nguyễn Phúc Chu xin phép lập một hải đội để thám hiểm khu vực Trường Sa. Đó chính là đội Bắc Hải. Nhờ những hoạt động thăm dò, chiếm hữu diễn ra vào các thế kỷ 17 – 18 này, mà dần dần kiến thức địa lý của người Việt được mở mang. Và người ta đã phân biệt quần đảo Hoàng Sa với quần đảo Trường Sa, không còn gộp chung vào Bãi Cát Vàng hay Đại Trường Sa như trước.

Rất nhiều sử liệu phản ảnh các sự việc này như: Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn, hay quyển Hải ngoại kỷ sự của Thích Đại Sán (một nhà sư người Trung Hoa), đều ghi rõ là các chúa Nguyễn đã cho người ra khai phá vùng đất Hoàng Sa, Trường Sa từ thế kỷ 17.

Qua thời nhà Nguyễn, ngay sau khi vua Gia Long lên ngôi, năm 1803 ông cho tái lập đội Hoàng Sa và sau đó đã sáp nhập vào thủy quân của triều Nguyễn. Vua Gia Long đã cử người ra Hoàng Sa thăm dò hải trình, vẽ bản đồ các hòn đảo. Năm 1816, vua Gia Long tuyên bố xác nhập quần đảo Hoàng Sa vào trong lãnh thổ Việt Nam một cách chính thức.

Tôi đã tìm khoảng 50 tài liệu bằng các thứ tiếng như Anh, Pháp, Bồ Đào Nha, Hòa Lan, Đức đã ghi nhận rất rõ ràng sự kiện này.

Năm 1836, vua Minh Mạng sai suất đội thủy quân Phạm Hữu Nhật ra quần đảo Hoàng Sa cắp các cột mốc chủ quyền của nhà nước Đại Nam. làm bằng gỗ, lên các đảo thuộc quần đảo này.

Như vậy, chúng ta thấy rõ, người Việt đã có quá trình chiếm hữu hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ rất sớm và các nhà nước Việt Nam lúc bấy giờ đã có quá trình xác lập và thực thi chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Hoàng Sa và Trường Sa, ít nhất là từ cuối thế kỷ 17.

Bản đồ đường chữ U đầu tiên Bạch Mai Sơ xuất bản năm 1936 là đường quy thuộc các “đảo” ở Biển Đông. (Hình: Bill Hayton)

*Người Việt: Như vậy Trung Quốc tuyên bố bãi Tư Chính là của họ dựa trên cơ sở nào?

-Ông Trần Đức Anh Sơn: Họ dựa trên một bản đồ, được Bạch Mi Sơ là một quan chức của chính quyền của Trung Hoa Dân Quốc, lúc chưa tách khỏi Trung Hoa đại lục, lập ra. Ông này lập ra một bản đồ dựa trên bản đồ của người Anh và dịch tên gọi của các đảo trong Biển Đông chủ yếu do người phương Tây đặt tên, và chuyển các tên đó thành tiếng Trung Quốc.

Trên bản đồ này, ông ta xác định một vùng nằm giữa Biển Đông bao gồm quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam và vạch một đường hình lưỡi bò, gồm 11 đoạn, rồi cho rằng những gì hiện diện bên trong đường 11 đoạn này là thuộc về Trung Hoa dân quốc.

Sau đó các học trò của ông này tiếp tục cũng cố bản đồ đó, trình lên chính phủ Trung Hoa dân quốc năm 1947.

Khi cuộc chiến tranh giữa Quốc Dân Đảng với Trung Quốc cộng sản kết thúc năm 1949, Đảng Cộng sản Trung Quốc thắng lợi, nhà nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời, họ tiếp tục kế thừa những kiến thức này của Trung Hoa dân quốc. Tuy nhiên họ cũng không quan tâm lắm bởi vì lúc đó Trung Quốc là một nước có thủy quân rất yếu. Trong lịch sử họ đã có khoảng 400 năm từ thời cận đại đến thời hiện đại thực hiện chính sách “quay lưng lại với biển”. Họ là tránh biển, chủ yếu tập trung vào lục địa.

Cho đến năm 1953, thủ tướng Trung Quốc mới bắt đầu quan tâm đến đường 11 đoạn. Có lẽ vì tình hữu nghị với chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, cùng hệ thống tư tưởng cộng sản nên ông ta đã bỏ hai đoạn trong vịnh Bắc Bộ, biến bản đồ 11 đoạn thành bản đồ 9 đoạn.

Nhưng, nếu lưu ý chúng ta sẽ thấy bản đồ 9 đoạn của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa lập ra sau này thì rộng hơn so với bản đồ đường 11 đoạn của chính quyền Trung Hoa dân quốc lập ra và chính thức hóa vào năm 1947. Cụ thể, “ranh giới” của đường 9 đoạn đi sát với vùng bờ của Việt Nam ở phía Tây, đi sát với vùng đảo của Philippines ở phía Đông, tiếp cận với vùng biển Natura ở phía Nam sát với ranh giới biển của Indonesia và Malaysia. Nghĩa là nó tham lam hơn rất nhiều so với đường 11 đoạn mà Trung Hoa dân quốc đã vẽ ra trước đó.

Và, Bãi Tư Chính, theo quan điểm của Trung Quốc thì nằm trong đường lưỡi bò nên Trung Quốc có chủ quyền. Họ phục hưng lại một bản đồ, thừa kế lại bản đồ của chính phủ đối lập trước đây là Quốc Dân Đảng của Trung Hoa dân quốc và mở rộng ra thêm, rồi nhận rằng họ có chủ quyền lịch sử đối với tất cả những gì ở bên trong đường 9 đoạn này.

Nguồn cội của Trung Quốc tranh chấp bãi Tư Chính bắt nguồn từ lịch sử nhầm lẫn và mưu đồ như vậy. Nói như Bill Hayton, là bắt nguồn từ vẽ bản đồ, sai sót và phi lý, và trở thành luận điểm chính của họ để họ tranh chấp bãi Tư Chính của Việt Nam.

Âm mưu chiếm trọn Biển Đông

*Người Việt: Trước những cơ sở của chủ quyền lịch sử như thế, thái độ và cách hành xử của hai bên trước diễn biến ở bãi Tư Chính đang nói lên điều gì? Ông có nghĩ rằng hình như phản ứng của chính phủ Việt Nam trong vụ bãi Tư Chính lần này không mạnh mẽ bằng vụ giàn khoan HD 981?

-Ông Trần Đức Anh Sơn: Chúng ta khẳng định Trung Quốc không có quyền gì đối với Hoàng Sa và Trường Sa, bãi Tư Chính.

Dưới đáy biển của khu vực Biển Đông có rất nhiều tài nguyên dầu mỏ là những nguyên liệu có thể khai thác thành dầu trong tương lai. Trung Quốc quan tâm đến nguồn nguyên liệu này. Họ là quốc gia tiêu thụ năng lượng hoá thạch lớn thứ nhì thế giới sau Hoa Kỳ.

Thứ hai là họ muốn kiểm soát con đường hàng hải đi qua Biển Đông. Bãi Tư Chính chỉ là một phần. Họ đã kiển soát Hoàng Sa. Bây giờ họ lập nên bảy đảo nhân tạo thành cứ điểm quân sự ở Biển Đông. Họ âm mưu lắp đặt phòng nhận diện phòng không. Họ áp đặt quyền và luật chơi của họ. Đồng thời họ còn muốn kiểm soát phần không phận ở Biển Đông. Do đó bãi Tư Chính chỉ là một hành động tiếp theo về trong một chuỗi hành động mà Trung Quốc đã gia tăng, đặc biệt là khi ông Tập Cận Bình lên làm tổng bí thư kiêm chủ tịch nước với khái niệm Trung Hoa Mộng, Một Vành Đai Một Con Đường.

Về phía Việt Nam, như chúng tôi có thông tin thì Việt Nam đã cử hai tàu cảnh sát biển ra ngay khi Trung Quốc đưa tàu hải cảnh của họ vào. Tàu có trọng lượng rất lớn, 10,000 tấn nước. Tuy nhiên Việt Nam giữ kín thông tin này cho nên các người quan sát, nghiên cứu không có thông tin mà chủ yếu dựa vô trang thông tin Sáng Kiến Minh Bạch Hàng Hải Châu Á và Tweeter của Martison của trường đại học Hoa Kỳ.

Tôi cũng có tin cho biết là thời gian qua Việt Nam đã tăng cường tàu cảnh sát biển ra đó, số lượng thì chúng tôi không được biết vì phía Việt Nam vẫn giấu kín. Nhưng chắc chắn là cảnh sát biển và kiểm ngư của Việt Nam đang trong khu vực gần bồn trũng bãi Tư Chính để bảo vệ chủ quyền và ngăn cản hành động quấy rối của Trung Quốc.

Theo tôi những phản ứng của phía Việt Nam trong lần này tương đối mạnh so với trước đây. Trước đây chờ rất lâu. Nhưng lần này trong mười mấy ngày đã lên tiếng và chỉ đích danh Trung Quốc.

Tuy nhiên những thông tin khác thì vẫn giữ kín, hoăc ở mức độ phát biểu. Còn những phát biểu của cấp cao hơn thì chưa có.

Tôi nghĩ rằng Việt Nam cũng đang tìm cách không đẩy tình hình leo thang lớn hơn nữa, nhằm tìm giải pháp mà theo họ là tốt nhất, tránh chiến tranh nổ ra trên biển.

Đối với những người nghiên cứu, người quan tâm trong và ngoài nước thì họ cho là Trung Quốc đang đẩy tình hình căng thẳng lên, đẩy Việt Nam đến giải pháp ngoại giao là không ăn thua, bây giờ chắc phải dùng đến pháp lý, cân nhắc khởi kiện Trung Quốc ra tòa quốc tế. Nhưng đó là quan điểm của học giả, chuyên gia, còn về phía chính phủ thì đến giờ chúng tôi vẫn chưa nghe gì.

“Lưỡi bò” 9 vạch mơ hồ và tham lam hơn “lưỡi bò” 11 vạch (tô thêm màu vàng). (Hình: Bill Hayton)

Khởi kiện là con đường tốt nhất

*Người Việt: Ông có nghĩ rằng Việt Nam kiện Trung Quốc ra tòa quốc tế như Philippines từng làm là cách tốt nhất hiện nay?

-Ông Trần Đức Anh Sơn: Theo tôi nghĩ với Việt Nam bây giờ thì đó là con đường tốt nhất. Không ai muốn có một cuộc chiến tranh cục bộ trên biển dẫn đến chiến tranh toàn diện trên đất liền, tất cả đều thiệt hại.

Thứ hai, Việt Nam đang có quan hệ mà tôi nghĩ là dùng chữ “lệ thuộc” về kinh tế, chính trị với Trung Quốc cho nên có rất nhiều phiền toái xảy ra. Việt Nam muốn tránh những điều này. Nhưng nếu không làm vậy thì Trung Quốc ngày càng lấn tới.

Đối với những nhà nghiên cứu thì cho rằng kiện là giải pháp tốt nhất.

Nhưng kiện thì kiện cái gì?

Nếu kiện về lịch sử chủ quyền thì chúng ta có rất nhiều tài liệu nhưng chúng ta chưa biết phía Trung Quốc đưa ra tài liệu gì. Trung Quốc nghiên cứu về Việt Nam, về Biển Đông cũng rất kỹ. Nghiên cứu về Biển Đông với họ là những đề tài cấp độ nhà nước, luận án luận văn tiến sĩ về Biển Đông của họ gấp ngàn lần chúng ta.

Nhưng có một điều chắc chắn chúng ta có thể dựa trên Phụ lục 7 của Công uớc Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS 1982) để kiện Trung Quốc về chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa, như cách mà Philippines đã làm đối với quần đảo Trường Sa.

Nếu chúng ta kiện thì tôi đoán rằng toà sẽ phán quyết như đối với trường hợp Philippines đối với quần đảo Trường Sa. Có nghĩa là sẽ không có một thể địa lý nào trên quần đảo Hoàng Sa đủ tư cách là một đảo thật sự. Như vậy các thể địa lý đó sẽ không có lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế. Điều đó vô cùng có lợi trong việc giải quyết tranh chấp hiện này. Vì nó sẽ không như luận điểm của Trung Quốc đưa ra là xem tất cả đảo ở Hoàng Sa và Trường Sa là một thể thống nhất, và từ đó vạch ra lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý thống nhất cho các thể địa lý này. Có nghĩa là vùng mà Trung Quốc bá quyền sẽ bị thu hẹp, sẽ bị vô hiệu hóa. Điều đó có lợi cho chúng ta, đặc biệt là cho ngư dân Việt nam, cũng như ngư dân các nước Đông Nam Á khi họ hoạt động khai thác trong vùng nước quanh các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Khu vực khảo sát địa chấn của HYDZ 8 hoàn toàn nằm trong EEZ của VN (đường đi của HYDZ từ 3 đến 28 Tháng Bảy, 2019. (Hình: Ryan Martinson, Twitter)

*Người Việt: Khi Tòa Trọng Tài Quốc Tế phán quyết Philippines thắng kiện thì ngay sau đó ông Tập Cận Bình đưa ra phát biểu là “phán quyết không có giá trị.” Ông có nghĩ điều này lặp lại một lần nữa nếu Việt Nam thắng kiện?

-Ông Trần Đức Anh Sơn:

Phán quyết đấy có lợi cho Philippines. Tôi hay nói đùa là ông Duterte (tổng thống Phi) đã bỏ cái phán quyết của Tòa PCA trong túi rồi đi nói chuyện với Trung Quốc. Nếu không có cái phán quyết đó thì tổng thống hiện nay của Philippines không dám mạnh dạn đặt cược, ra nhiều điều kiện có lợi cho Philippines trước Trung Quốc.

Thứ hai, sau kết quả của vụ kiện thì Trung Quốc không còn hô hào to tát, lớn tiếng ầm ĩ như trước đây. Những phát biểu về chủ quyền củ Trung Quốc ở biển Đông của ông Tập Cận Bình chỉ từ 2015 đến đầu 2016 là ngưng, không thấy nói thêm.

Thứ ba, Trung Quốc vừa là quốc gia thành viên của Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển vừa là nước tham gia soạn thảo công ước trên nên nếu họ liên tục vi phạm như vậy họ sẽ bị cô lập, bị mất uy tín.

Vì họ không thừa nhận kết quả như vậy nên các nước xung quanh có quyền lợi liên quan Biển Đông bắt tay nhau thành lập các liên minh mới chống lại Trung Quốc. Đây là điều Trung Quốc rất sợ.

Đừng nghĩ họ bỏ qua phán quyết đó. Họ nghiên cứu các khía cạnh của phán quyết và tìm các thích ứng để làm thế nào có lợi cho họ. Phán quyết đó không phải là tờ giấy lộn vô giá trị như nhiều người đã nghĩ.

“Tôi sẽ trao toàn bộ tài liệu nếu Việt Nam khởi kiện, nhưng không tham gia”

*Người Việt: Ông đã bị buộc phải từ chức, buộc ra khỏi đảng CSVN vì những nghiên cứu và sự lên tiếng rất thẳng thắn về vấn đề Biển Đông. Nếu bây giờ nhà nước CSVN mời ông tham gia vào chuẩn bị hồ sơ khởi kiện Trung Quốc thì câu trả lời của ông ra sao ạ?

-Ông Trần Đức Anh Sơn: T

Tôi đã có thời gian dài nghiên cứu và sưu tầm tài liệu về vấn đề này. Tôi đã đi đến 13 nước khác nhau để tìm các tài liệu này đưa về Việt Nam. Hiện tôi đang có trong tay khoảng 1.7 TB tài liệu liên quan đến Hoàng Sa – Trường Sa và đã được công bố hoặc chưa công bố bao giờ. Tôi sẵn sàng trao lại những tư liệu này cho nhà nước, để họ có thêm tư liệu để họ kiện, nhưng tôi sẽ không tham gia vào công việc của họ nữa.

Tôi không tham gia vì bao nhiêu năm qua tôi làm việc và tôi thấy việc nhà nước đối xử với những trí thức như tôi là quá bạc bẽo . Vì thế nên nên tôi không muốn tham gia.Tôi tránh những rắc rối với nhà nước để tập trung làm những công việc mới. Nhưng nếu họ cần thì tôi sẵn sàng trao cho họ đầy đủ.

*Người Việt: Cảm ơn ông đã trả lời nhật báo Người Việt!


Cát Linh
Người Việt

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét